CAO ĐÀI GIÁO

TÊN GỌI ĐẠO CAO ĐÀI

Là một tôn giáo được thành lập ở Việt Nam vào đầu thế kỷ XX, năm 1926. Cao Đài giáo tin rằng mình sẽ trường tồn với thời gian, trong vòng «thất ức niên dư», mỗi ức là mười vạn, mỗi vạn là mười ngàn năm tức là hơn 700.000 năm

Tên gọi Cao Đài theo nghĩa đen chỉ “một nơi cao”, nghĩa bóng là nơi cao nhất ở đó Thượng đế ngự trị; cũng là danh xưng rút gọn của Thượng đế trong tôn giáo Cao Đài, vốn có danh xưng đầy đủ là Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát. Cao Đài biểu thị cho Nho giáo.Tiên ông biểu thị cho Tiên giáo. Đại bồ tát Ma ha tát biểu thị cho Phật giáo. Ngài còn xưng: “Nhiên Đăng Cổ Phật thị Ngã, Thích Ca Mâu Ni thị Ngã. Thái Thượng Ngươn Thỉ thị Ngã, Kim viết Cao Đài”

Ngài cũng còn dạy:

«…Tên là cái giả triền miên muôn đời,

Xuống lên, lên xuống luân hồi,

Đến tên Ngọc đế mấy hồi đổi thay,

Khi xưng Giáo chủ Cao Đài,

Khi xưng Thiên Chúa, khi khai Di Đà,

Lắm hồi Bồ tát Ma ha,

Bao lần Khổng Mạnh cũng Già này đây.»]

Như vậy, chung quy đều là giả danh, tá danh. Đúng là: «Đạo khả đạo, phi thường Đạo; Danh khả danh, phi thường danh.»

Cao Đài hay Thượng đế xưa nay không bao giờ rời xa con người, mà vẫn luôn ở sẵn trong lòng con người, và là bản thể con người. Cao Đài là bản thể con người, ngự trị trong giữa đầu não con người (nê hoàn cung)chỗ cao nhất của mỗi người.

Để tỏ lòng tôn kính, một số các tín đồ Cao Đài thường gọi tôn giáo của mình là đạo Trời.

BIỂU TƯỢNG CAO ĐÀI : THIÊN NHÃN

Thượng đế dạy Đức Ngô Minh Chiêu lấy Thiên nhãn làm biểu tượng cho đạo Cao Đài, tại Phú Quốc vào năm 1921.

Trong một đàn cơ ngày 31 tháng Giêng năm Bính Dần (25-02-1926), Đức Cao Đài dạy tại sao lại dùng Thiên nhãn mà thờ như sau:

«…Chưa phải hồi các con biết đặng tại sao vẽ thánh tượng Con Mắt mà thờ Thầy, song Thầy nói sơ lược cho hiểu chút đỉnh:

«Nhãn thị chủ Tâm

Lưỡng quang chủ tể

Quang thị Thần

Thần thị Thiên

Thiên giả Ngã dã.

«Thần là khiếm khuyết của cơ mầu nhiệm từ ngày đạo bị bế. Lập Tam kỳ Phổ độ này, duy Thầy cho thần hiệp tinh, khí đặng đủ tam bảo là cơ mầu nhiệm siêu phàm, nhập thánh.

«Từ ngày bế đạo, thì luật lệ hãy còn nguyên, luyện pháp chẳng đổi, song Thiên đình mỗi phen đánh tản thần không cho hiệp cùng tinh, khí. Thầy đến để hoàn nguyên chơn thần cho các con đắc đạo.

«Con hiểu: Thần cư tại nhãn. Bố trí cho chư đạo hữu hiểu rõ nguồn cội Tiên Phật yếu nhiệm là tại đó. Thầy khuyên các con mỗi phen nói đạo, hằng nhớ danh Thầy.»

Trong mấy câu ngắn gọn kể trên, bao gồm nhiều ý nghĩa quan trọng.

  1. Thượng đế xưng mình là Ánh Sáng, là Thần ở ngay trong đôi mắt ta.
  2. Ngài cho rằng xưa nay Thần con người đã bị Thiên đình đánh lạc.
  3. Nay Ngài đến để trả lại Thần cho con người.

Như vậy Thượng đế tuyên xưng Ngài là Ánh Sáng là Thần, là Bản thể con người, ở ngay trong mắt ta.

Ngài nói con người đã bị tản thần, thì trong Genesis cũng viết: «Thần của ta sẽ không còn lưu tồn mãi nơi loài người, bởi chúng là xác thịt. Ngày đời của chúng là 120 năm.»

Công giáo cũng vẫn cho rằng: Con người chỉ có Xác và Hồn, không có Thần.

Tiên tri Joel hứa Chúa trả lại Thần cho con người. «Sẽ xảy ra là sau đó ta sẽ đổ Thần ta trên mọi xác phàm.»

Cao Đài dạy ta đừng quên là ta có Thần Chúa trong ta. Những câu này, thiệt đáng ghi nhớ.

GIÁO LÝ

Tín đồ Cao Đài tin rằng Thượng đế là Đấng sáng lập ra các tôn giáo và cả vũ trụ này. Tất cả giáo lý, hệ thống biểu tượng và tổ chức đều được “Đức Cao Đài” trực tiếp chỉ định. Và đạo Cao Đài chính là được Thượng đế trực tiếp khai sáng thông qua Cơ bút cho các tín đồ với nhiệm vụ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, có nghĩa là Nền đạo lớn phổ độ lần thứ Ba. Đại đạo là tinh hoa các đạo giáo xưa nay;Tam kỳ là tinh hoa các đạo giáo thiên hạ, của ba thời kỳ, từ thượng cổ, trung cổ và cận kim. Phổ độ là cứu rỗi mọi người, chẳng trừ ai.

.Đại đạo Tam kỳ Phổ độ nòng cốt là theo tinh hoa Tam giáo (Nho, Thích, Lão) là Nho giáo, Phật Giáo và Đạo giáo nhưng cũng tham khảo Thiên Chúa giáo, Bà La Môn, Hồi giáo, v.v…

Các tín đồ thi hành những giáo điều của Đạo như không sát sinh, sống lương thiện, hòa đồng, làm lành lánh dữ, giúp đỡ xung quanh, cầu nguyện, thờ cúng tổ tiên, và thực hành tình yêu thương vạn loại qua việc ăn chay với mục tiêu tối thiểu là đem sự hạnh phúc đến cho mọi người, đưa mọi người về với Thượng đế nơi Thiên giới và mục tiêu tối thượng là đưa vạn loại thoát khỏi vòng luân hồi.

Cơ bút là nền tảng căn bản cũng như mọi yếu tố liên quan đến quá trình hình thành và phát triển của tôn giáo Cao Đài từ quá khứ đến hiện tại, từ việc thu nhận tín đồ, phong chức sắc, ban hành luật đạo, các nghi thức cúng tế, phẩm phục, kinh điển, thậm chí đến các thiết kế cơ sở thờ tự cũng được thông qua bởi hình thức Cơ bút.

Hai hình thức Cơ bút ảnh hưởng đến sự ra đời của tôn giáo Cao Đài là thuật Xây (xoay) Bàn (la table tournante) theo thuyết Thông linh học (Spiritisme) của Allan Kardec đến từ Pháp, và Đại ngọc cơ (大玉機) xuất xứ từ Trung Quốc.

  • Đồng tửlà người phò cơ chấp bút theo Vô hình chỉ dạy. Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy rõ: Phải có một chơn linh tinh tấn mới mầu nhiệm, huyền diệu, phải trường trai mới đặng linh hồn tinh tấn, phải tập tánh chí Thánh Tiên Phật mới phò cơ dạy Đạo cả chúng sanh. Kẻ phò cơ chấp bút cũng như tướng soái của Thầy để truyền Đạo cho thiên hạ. Con đừng tưởng việc bút cơ là việc tầm thường…
  • Cơ bútlà một phương tiện thông công với thế giới vô hình. Khác với phương tiện do Thông Linh học Tây phương dùng con cơ di động theo bàn tay của người đồng tử trước một bảng có sẵn các mẫu tự La tinh, trong khi cơ bút trong Cao-Đài giáo phát nguyên từ nguồn cội Minh Sư bên Trung Hoa. Đó là một dụng cụ mô hình chòm sao Bắc Đẩu gồm một cái giỏ đan bằng tre hình lăng trụ bọc vải vàng một đầu kín một đầu hở, đường kính khoảng 1,2 tấc tây, bề cao khoảng 2,1 tấc tây, đầu dưới trống luồn qua một thanh gỗ tròn dài khoảng 7 tấc tây có gắn liền xiên về phía trước một đầu gỗ khoảng 1 tấc dùng làm ngòi bút sẽ chạy dài trên mặt bàn khi đồng tử vâng lịnh viết ra. Thường thì đầu này được chạm hình đầu con rồng.

Vô vi và Phổ độ

Thượng đế lập Cao Đài gồm hai thành phần: Vô vi và Phổ độ.

  • Vô vi: Ngài truyền Vô Vi cho đức Ngô Minh Chiêu từ 1921.
  • Phổ độ: Ngài truyền Phổ độ cho nhóm Phò loan từ 1925. Nhóm Phò loan gồm các ông Cao Quỳnh Cư (1887-1929), Cao Hoài Sang (1900-1971), Phạm Công Tắc (1890-1959), và sau này có thêm những ông Nguyễn Trung Hậu (1892-1961), Lê Văn Trung (1895-1934), Lý Trọng Quí, Lê Văn Giảng, Võ Văn Sang, Nguyễn Văn Hoài, Đoàn Văn Bản, Vương Quan Kỳ (1880-1940), v.v…

Thế nào là Vô vi?

Vô vi là phần cao siêu nhất trong một đạo giáo. Người theo vô vi phải có tuệ căn, phải có trình độ tu luyện, phải nắm vững được cái cao siêu bí diệu của đạo giáo. Cao Đài chỉ có một mình Đức Ngô Minh Chiêu là theo được vô vi. Ngài không tham quyền cao, chức trọng, sẵn sàng từ bỏ chức Giáo tông (24-4-1926), và tách rời đám Phổ độ.

Người theo vô vi trông thấy Trời, thấy Bản thể vũ trụ, thấy Lương tâm trong lòng mình.

Phần vô vi trong Cao Đài chính là toát lược tâm pháp triết học, và Đại đạo chân truyền.

Tâm pháp triết học là gì?

Thưa là thuyết Thiên địa vạn vật đồng nhất thể. Đại khái chủ trương:

  1. Vũ trụ hữu hình này là phân thể của một toàn thể, đã được phóng phát, tán phân ra.
  2. Như vậy, vạn hữu đồng căn nhưng dị dạng, nhất thể vạn thù.
  3. Thượng đế tiềm ẩn trong giữa lòng quần sinh, vũ trụ.
  4. Giác ngộ là biết rằng con người có Bản thể Thượng đế, có tính Trời.
  5. Tìm Trời, tìm Đạo phải tìm trong lòng, phải đi vào nội tâm.
  6. Lúc chung cuộc, vạn vật sẽ siêu thăng, trở về với Thượng đế. Thế là vạn vật tuần hoàn, chung nhi phục thủy.
  7. Vũ trụ, lịch sử chuyển hoá hai chiều, vãng lai, thuận nghịch, thành một chu kỳ.

Cao Đài chủ trương Trời người đồng thể Hễ Trời có những món gì, Người người đều cũng đủ y như Trời.» Chẳng những vậy, muôn loài cũng đồng bản thể như nhau: Cao Đài chủ trương con người có ba phần: Thần; Khí (Hồn); Tinh (Xác).

  • Thần là Trời, là phần bất biến trong con người. Còn gọi là nhị xác thân hay Đạo tâm, hay Nguyên thần hay Chơn thân.Nhị xác thân, hay Chơn thân là cái xác thân vững bền muôn kiếp, sống mãi bằng Trời, không tử, không sanh, không thêm, không bớt. Luyện đặng cái Chơn thân ấy, thì trường sinh, bất tử, khỏi phải chịu quả báo, luân hồi, đời đời, kiếp kiếp an hưởng vui chơi nơi bồng lai, tiên cảnh. Ấy là Chơn nhân vậy…
  • Khí tức là Hồn con người đầy thất tình, lục dục, biến hoá, vô thường, luân hồi, sinh tử.
  • Tinh tức là phần Xác.

Ý nghĩa Phổ độ

Phổ độ là phần sáng lập một tôn giáo, cũng đủ mọi phần lễ nghi, hình thức, lề luật, giáo điều. Đó là phần chi tiết, cho những người sơ cơ, bước vào đường Đạo. Phổ độ chung quy sẽ phải nhường bước cho vô vi, vì vô vi mới là chủ đích chính yếu của Cao Đài.

Cao_Dai_Holy_See[1]

QUY MÔ PHÁT TRIỄN

Hiện nay, Đạo Cao Đài là tôn giáo lớn thứ 3 tại Việt Nam. Theo thông tin của Ban Tôn giáo Chính phủ Việt Nam, dẫn thống kê năm 2010 của các tổ chức Cao Đài thì có khoảng hơn 2,4 triệu tín đồ, còn theo Thống kê của Tổng cục thống kê Việt Nam cũng trong năm 2009 thì số người tự xem mình là tín đồ Cao Đài tại Việt Nam là 807.915 người, cũng có nguồn ghi hơn 5 triệu. Về mặt tổ chức đạo Cao Đài có trên 1 vạn chức sắc, gần 3 vạn chức việc với 958 tổ chức Họ đạo cơ sở được công nhận. Trên toàn quốc có 35/38 tỉnh thành đạo Cao Đài hoạt động với 65 Ban Đại diện, 1.290 cơ sở thờ tự (hàng năm có khoảng 4 ngàn tín đồ mới nhập môn vào đạo Cao Đài). Ngoài ra, có khoảng 30.000 tín đồ nữa sống ở Hoa Kỳ, Châu Âu và Úc. Theo trang thông tin và truyền giáo Cao Đài hải ngoại, số tín đồ Cao Đài là khoảng 5 triệu

Có bảy đàn tiên đầu tiên là:

  1. Đàn phố Hàng Dừa của nhóm Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc.
  2. Đàn Cầu Kho của nhóm Đoàn Văn Bản, Nguyễn Trung Hậu, Trương Hữu Đức, Vương Quan Kỳ, Lê Văn Giảng, Nguyễn Văn Mùi, v.v…
  3. Đàn Chợ Lớn do nhóm Lê Văn Trung, Cao Hoài Sang, Cao Quỳnh Diêu, Lê Bá Trang.
  4. Đàn Lộc Giang tại chùa Phước Long của nhóm Trần Duy Nghĩa, Trương Văn Tràng, Mạc Văn Nghĩa.
  5. Đàn Tân Định của nhóm Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Nguyễn Ngọc Thơ.
  6. Đàn Thủ Đức của nhóm Ngô Văn Điều, Huỳnh Văn Mai, Võ Văn Nguyên.
  7. Đàn Tân Kim của nhóm Nguyễn Văn Lai, Ca Minh Chương, Phạm Văn Tươi. Có các ông Lê Văn Lịch, Nguyễn Ngọc Tương, Phạm Văn Tiếp, v.v… hầu đàn.

Sau này còn thêm được những đại đệ tử như: Nguyễn Ngọc Tương (1881-1951), Lê Văn Lịch (1890-1959), Trần Đạo Quang (1870-1946).

Đạo Cao Đài chính thức ra đời [lập Tờ khai Đạo] ngày 07-10-1926, và có 28 vị ký tên.

Buổi khai đạo, Đức Cao Đài cũng đã đem được Ngũ chi về theo Cao Đài.

Ngũ chi là:

  1. Chi Minh Đường của ông Lê Văn Lịch.
  2. Chi Minh Sư của Trần Đạo Quang.
  3. Chi Minh Tân của Lê Minh Khá.
  4. Chi Minh Thiện (Hạnh Thông Tây, Gia Định), thường thiên về quốc sự. Chi này quy tụ nhiều trí thức buổi đầu như Trần Hiển Vinh, Nguyễn Phan Long, v.v…
  5. Chi Minh Lý của Âu Kiết Lâm.

Do đó mà tôn chỉ đầu tiên của Cao Đài là Tam giáo quy nguyên, Ngũ chi phục nhứt.

Khái niệm cơ bản, thể hiệp sự dung hợp các tôn giáo hình thành nên đạo Cao Đài được gọi là “Tam giáo quy nguyên” (Ba tôn giáo sẽ hợp về một mối). Theo họ, ở thời kỳ phổ độ lần thứ 3, các tôn giáo lớn sẽ hợp nhất giáo lý thành một nền Đại Đạo duy nhất và được truyền bá bằng tiếng Việt

Bên cạnh đó, khái niệm “Ngũ chi phục nhất” (Năm nhánh đạo sẽ trở thành một nền đạo lớn) được đi kèm với “Tam giáo quy nguyên”, với cùng ý nghĩa. Theo đó, “Ngũ chi” hàm chỉ các tôn giáo trên toàn thế giới, kể cả Tam giáo, thực chất cũng chỉ là 5 nhánh đạo (con đường) gồm Nhơn đạo, Thần đạo, Thánh đạo, Tiên đạo, Phật đạo. Năm nhánh này thể hiện năm nấc thang tiến hóa từ thấp lên cao trong quá trình tu tập của các tín đồ, dù theo hướng nào thì cũng quy về một mối.[

 

Sau này các môn đệ Cao Đài chia làm nhiều chi phái như:

* Vô vi (1920) Chiếu Minh Đàn của Ngô Minh Chiêu.

* Phổ độ (1926) Lê Văn Trung và các ông Cư, Tắc, Sang, Hậu.

* Bến Tre (1938): Nguyễn Ngọc Tương.

* Tây Ninh (1938): Phạm Công Tắc.

* Cầu Kho (1930): Vương Quan Kỳ.

* Minh Chơn Lý (1931-1935): Nguyễn Văn Ca (Định Tường).

* Tiên Thiên (1932): Nguyễn Hữu Chỉnh (Cai Lậy).

* Minh Chơn Đạo (1935): Cao Triều Phát (Cà Mau).

Các tổ chức giáo hội[15] Cao Đài được nhà nước Việt Nam công nhận pháp nhân[16] xếp theo số lượng tín đồ:

  1. Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Tòa Thánh Tây Ninh: là tổ chức Hội Thánh Cao Đài nguyên thủy, được thành lập năm 1926, và cũng là Hội Thánh lớn nhất, là đại diện của tôn giáo Cao Đài, với hơn 2,5 triệu tín đồ, 400 Họ đạo với 387Thánh thất, 145 Điện thờ Phật mẫu, phân bổ trong 39 tỉnh thành trong cả nước.[17]Khoảng 3 vạn tín đồ đang cư trú tại nước ngoài như Bắc Mỹ, Châu Âu, Úc, Campuchia. Địa bàn có đông tín đồ nhất là tỉnh Tây Ninh. Được Việt Nam công nhận pháp nhân hai lần, lần thứ nhất vào ngày 12 tháng 7 năm 1965 dưới thời Việt Nam Cộng hòa[18] và lần thứ 2 được công nhận vào ngày 9 tháng 5 năm 1997 dưới thời Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Trung ương Hội Thánh đặt tại Tòa Thánh Tây Ninh (xã Long Thành Bắc, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh).
  2. Hội Thánh Cao Đài Ban Chỉnh Đạo: là tổ chức giáo hội Cao Đài lớn thứ hai, được thành lập năm 1934, quản lý hơn 80 vạn tín đồ, với hơn 299 thánh thất ở 25 tỉnh thành. Một số lượng nhỏ tín đồ cư trú tại nước ngoài. Địa bàn có đông tín đồ nhất là tỉnhBến Tre. Được nhà nước Việt Nam công nhận pháp nhân ngày 8 tháng 8 năm 1997. Trung ương Hội Thánh đặt tại Tòa Thánh Bến Tre (phường 6, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).
  3. Hội Thánh Cao Đài Tiên Thiên: là tổ chức giáo hội Cao Đài lớn thứ ba, được thành lập năm 1932, quản lý hơn 8 vạn tín đồ, với hơn 127 thánh tịnh ở rải rác 15 tỉnh thành. Là Hội Thánh Cao Đài được nhà nước Việt Nam công nhận pháp nhân sớm nhất vào ngày29 tháng 7 năm 1995. Trung ương Hội Thánh đặt tại Tòa Thánh Châu Minh (xã Tiên Thủy, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre).
  4. Hội Thánh Truyền Giáo Cao Đài: là tổ chức giáo hội Cao Đài lớn thứ tư, được thành lập năm 1956, quản lý gần 1,5 vạn tín đồ, với 61 thánh thất nằm rải rác 17 tỉnh thành. Địa bàn có đông tín đồ nhất tạiQuảng Nam, Đà Nẵng. Được nhà nước Việt Nam công nhận pháp nhân vào ngày 24 tháng 9 năm 1996. Trung ương Hội Thánh đặt tại Trung Hưng Bửu Tòa (phường Thạch Thang, quận Hải Châu, Thành phố Đà Nẵng).
  5. Hội Thánh Cao Đài Minh Chơn Đạo: là tổ chức giáo hội Cao Đài đứng thứ năm, được thành lập năm 1935, quản lý 47 thánh thất phân bổ trong 4 tỉnh. Địa bàn có đông tín đồ nhất tạiCà Mau. Được nhà nước Việt Nam công nhận pháp nhân vào ngày 2 tháng 8 năm 1996. Trung ương Hội Thánh đặt tại Tòa Thánh Ngọc Sắc (xã Hồ Thị Kỷ, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau).
  6. Hội Thánh Cao Đài Chơn Lý: là tổ chức giáo hội Cao Đài đứng thứ sáu, được thành lập năm 1931, quản lý khoảng 1 vạn tín đồ trên khắp 32 tỉnh, thành phố trực thuộc hệ thống 38 tỉnh, thành có cơ sở thờ tự Cao Đài, với 30 thánh thất và các trường quy[19]. Địa bàn có đông tín đồ nhất là tỉnh Tiền Giang, địa phương có nhiều thánh thất nhất là tỉnhLong An. Được nhà nước Việt Nam công nhận pháp nhân vào ngày 14 tháng 3 năm2000. Trung ương Hội Thánh đặt tại Tòa Thánh Chơn Lý (xã Mỹ Phong, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang)
  7. Hội Thánh Cao Đài Cầu Kho Tam Quan: là tổ chức giáo hội Cao Đài đứng thứ bảy, được thành lập năm 1960, quản lý 33 thánh sở. Địa bàn có đông tín đồ nhất tạiBình Định. Được nhà nước Việt Nam công nhận pháp nhân vào ngày 28 tháng 4 năm 2000. Trung ương Hội Thánh đặt tại Tòa Thánh Cầu Kho Tam Quan(xã Tam Quan, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định).
  8. Hội Thánh Cao Đài Chiếu Minh Long Châu: là tổ chức giáo hội Cao Đài đứng thứ tám, được thành lập năm 1956, quản lý 16 thánh tịnh. Địa bàn có đông tín đồ nhất tạiHậu Giang, Cần Thơ. Được nhà nước Việt Nam công nhận pháp nhân vào ngày 27 tháng 7 năm 1996. Trung ương Hội Thánh đặt tại Tòa Thánh Long Châu (xã Tân Phú Thạnh, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang).
  9. Hội Thánh Bạch Y Liên Đoàn Chơn Lý: là tổ chức giáo hội Cao Đài đứng thứ chín, được thành lập năm 1955, quản lý 14 thánh sở. Địa bàn có đông tín đồ nhất tạiKiên Giang. Được nhà nước Việt Nam công nhận pháp nhân vào ngày 8 tháng 7 năm 1998. Trung ương Hội Thánh đặt tại Tòa Thánh Ngọc Kinh (xã Mông Thọ B, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang).

Ngoài ra còn 2 tổ chức Cao Đài cũng được công nhận tư cách pháp nhân là:

  1. Pháp môn Cao Đài Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vilà một tổ chức pháp nhân đại diện của các tín đồ Cao Đài Chiếu Minh Tam Thanh[20], thành lập năm 1926, quản lý 8 cơ sở và khoảng 6.000 tín đồ. Địa bàn có đông tín đồ nhất tại Cần Thơ và Hậu Giang. Được nhà nước Việt Nam công nhận pháp nhân vào ngày 26 tháng 4 năm 2010. Trị sở trung ương đặt tại Thánh Đức Tổ đình (phường Hưng Lợi, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ).
  2. Giáo Hội Cao Đài Việt Nam Bình Đức: là một tổ chức giáo hội Cao Đài, được thành lập vào năm 1961, quản lý có 9 cảnh, 6 thánh thất, 16 cảnh Trường qui với hơn 2.300 tín đồ ở các tỉnhTiền Giang, Long An, Bến Tre, Đồng Tháp và Thành phố Hồ Chí Minh[21]. Được nhà nước Việt Nam công nhận pháp nhân vào ngày17 tháng 7 năm 2011. Trung ương giáo hội đặt tại Thiên Tòa Hoàng Đạo (xã Bình Đức, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang)

kiếm tiền với vật giá
Tải về: Top 10 cuốn sách truyền cảm hứng nhất mọi thời đại


Kiếp Phong Trần

Chào mừng mọi người viếng thăm. Rất vui được làm quen với tất cả mọi người. Chúc mọi người luôn dồi dào sức khỏe! Email: infogate.vnn.vn@gmail.com

XemThem2[1]

Còn bạn thì sao?

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *