Thánh Kinh Quyển 4 – Duy Thức

LIÊN HOA TAM MUỘI

Muốn trở thành nhà THÁNH, PHẬT hãy trao rèn trí, tánh, bằng bốn quyển thánh kinh thiện hảo của DUY THỨC TÔNG

– Mê tín chia-rẽ để nó vô ích. Hãy đạp đổ nó với cương vị nhà Tiên-Phong trong cuộc Thánh-giáo để xây dựng chương trình Đại Hiệp.

– Hãy xem kinh, xem cho tường suy cho tận, đừng biếng nhác, tự cao, và thất học. Kẻ trí-thức và chơn-thiện luôn nhìn tiếng nói của toại lạc bằng hoán xét chớ không phải pha suông. Suy-nghiệm là gốc của sự vinh-quang; bằng không hãy trao cho kẻ khác, hoặc ngộ được rồi, hãy giúp kẻ khác biết thêm. Đừng ích kỹ, đó là Đại-Tín cần phải hành.

NỀN MÓNG

Đạo-pháp suy-vi, luân-thường đảo lộn – nền móng chơn thiện đà gảy đổ gốc nguồn, do những cơ xảo của vật chất quá mạnh, vì sự sái lệch của lương-tâm, của sự tấn-hóa, nên bao đồi trụy, chiến-tranh, khó khổ mãi bành trướng chẳng giờ ngưng.

Muốn chấm dứt khổ lao, phải thủ thường tác-phong và tâm tánh mình trong lễ giáo.

  • Lễ giáo dứt tranh cạnh và sái đạo
  • Lễ giáo dứt sự tham lam và sân hận
  • Lễ giáo dứt sự si mê và sa đọa

Chính thế,

Quyển Thánh Kinh bốn tập nầy sẽ dẫn đường cho Sa-môn cùng chư Thiện Nam Tín Nữ đi từ cấp cư-sỉ đến Thánh-Sự, và rốt cùng là Phật-Sự. Trong nội dung, được ghi tất cả những bổn phận phải hành của đứa con, cha mẹ, anh chị, của người buôn bán, quan quyền, giáo chức, vua chúa…và rốt cùng là sự tự giác-ngộ, sau khi suy ngẫm từng điểm một đến hết quyển thứ 3. – Ai rõ hiểu hạnh thánh-nhân bồ-tát ở ba quyển đầu, mới có thể đáo triệt được con đường bất-nhị của chơn thừa.

  • Hãy cố gắng về cõi tịnh
  • Thành tâm kỉnh nguyện công-đức mười phương Tam Thế Phật-Pháp-Tăng khai quang cho Chư Sa-Môn và Chư Thiện Nam Tín Nữ trên con đường về cõi sáng.

Tu Sĩ HUỲNH HUỆ GIÁC (Cẩn bút)

DUY THỨC TÔNG

Tu-sĩ: HUỲNH HUỆ GIÁC

BỬU NGỌC VĂN MINH

Huynh-Trưởng Khai Giáo

Duy Thức Tông

Khất-Sĩ Đầu-Đà Luân-Pháp Hạnh

  1. Pháp môn Duy Thức
  2. A-Lại-Da-Thức
  3. Mạt-Na-Thức
  4. Ý Thức
  5. Ngũ Thức

 

  1. PHÁP MÔN DUY THỨC

 

Môn đệ, các ngươi đã học nhiều về thế gian pháp, mà ta điềm chỉ trong ba quyển Thánh Kinh đầu tiên; giờ đây, các ngươi hãy nghiệm kỹ những lý-pháp trong quyển nầy để rõ pháp quyền, pháp giả, văn huyển, kinh hóa.

 

Từ trước tới nay, ta dạy những chơn-kinh cho các ngươi nhưng nó chưa phải là chơn. Mà, các ngươi không nương vào cái giả đó, chắc các ngươi khó kiến được cái chơn-thật của võ-trụ.

 

 

Môn đệ, các ngươi biết Duy Thức là gì không? Đây nầy, hãy khá kính pháp – kính pháp là chịu học pháp, chịu học pháp; sắt sẽ thành kim. Vậy, lặng tâm để suy-nghĩ – lặng tâm nghiệp không vọng, dễ kiến chơn tánh;

Nước sẽ trong suốt đến đáy – Đó cũng gọi là Duy Thức Môn.

 

Ngọn đèn sáp trước gió bị lay động; tâm mê đâu khác đó. Nhưng chơn-tâm làm sao bị gió cảnh lay được, nếu tam độc-nghiệp đều thanh-tịnh.

 

Môn đệ, cầm bó đuốc thì bó đuốc là bó đuốc, nhưng bó đuốc sẽ trở thành vòng lửa nếu được vụt vù quay chuyển. Nầy các con yêu của Thượng Đế, các ngươi có nghe ta – kẻ tôi nô cho Tịnh Cỏi – giảng không? và các ngươi nói rằng: Đuốc hay vòng lửa là tùy ở tâm của mỗi linh thể, còn ta:

 

Nếu vòng kia trụ lại thì sao gọi nó là vòng – Hãy duy-thức cho minh, sẽ thấy huyển hóa.

 

Môn đệ, không gian vô-tận, pháp lý vô-biên; nhưng vô-tận và vô-biên nó vẫn lệ thuộc vào một cội; Vì chính cội ấy là cõi của chư Phật đến trụ: Đó là chơn-lý thật của võ-trụ vậy.

 

Các ngươi hãy tìm nó, hãy lấy duy-thức ra để thấy, vì nó là tâm, Tâm là Duy-Thức. Duy-thức xong, tâm và Duy-thức sẽ trở thành vô-tận, vô biên của hóa huyển nữa.

 

Duy-thức là chơn-tâm nhưng Duy-thức vẫn giả. Dầu là giả nếu bỏ đi chắc chắn khó kiến lý chơn.

 

Môn đệ, hằng hà sa số pháp, vô lượng vô phân pháp; pháp pháp minh-mông pháp; nhưng đắc pháp chỉ một pháp, một pháp thấu vạn pháp; vạn pháp chỉ thể không; pháp chính thị sạch trong, chứng tâm không ngộ pháp, ngộ pháp cứng tùy hạp, chánh giác quả là đây.

 

Môn đệ, tu đừng kiếm pháp vì pháp nô lệ tâm, chớ để tâm nô lệ pháp; Dùng tâm kiếm pháp chính thị ngoại tà. Pháp ở bên các ngươi.

 

Môn đệ, các ngươi nghe nói tiếng Duy-thức nhưng ngộ nghĩa duy-thức chắc chưa thấu toàn, nếu toàn đã chứng quả. Vậy ta giải điểm chánh như vầy: Duy hay giữ thero nghĩa duy-trì; thức là biết hay giác cũng được. Duy-thức là kiềm xét một sự việc tâm (đâu cũng là tâm), và, thâu giữ trong niệm, cho đến khi niệm trở thành giới giữ lại tâm:  như thế là trụ chính của Duy-thức-tông vậy.

 

Niệm chánh, niệm tà cũng được sáng suốt, nếu áp-dụng Duy-thức để cải sửa đến cùng.

 

Môn đệ, Tâm-thức hay A-Lại-Da-Thức cũng là một; nó sẽ trở lại, và nó chính là vòng gốc của bảy vía cảnh: khi kiến một sự, nó quay cả ngàn, cũng như các ngươi ngộ một pháp thấu suốt hà tầng vậy. Nó là sự lý xấu, là tánh tội, nó tương-phản rất mãnh liệt với tứ đại tâm, nhưng nó là mục tiêu yếu cần cho môn Duy-thức điều-tra chơn-đế vậy.

 

Nó: Sát đạo dâm vọng

Tâm: Từ bi hỷ xã

 

Giữ nó và tâm, chính là mấu tồn Duy-thức vậy

 

Nó ác  tâm thiện, giữa thiện ác đâu ngoài trung-đạo; mà Duy-thức là tiềm-tàng sự lý toàn vẹn của xét trụ, trụ bỏ, là quả chánh-đẳng vô ngại(hay vô tác).

 

Môn đệ, chúng-sanh mê thiện, Bồ Tát nương ác hành thiện; còn Phật thiện ác lại đồng đều. Nầy các ngươi nghe pháp Duy-thức của tâm ta đây: ta biết, nó là pháp ác, ta không diệt nó, ta không theo nó, mà ta nhìn nó rồi mĩm cười, nó hoan hỉ, nó theo ta, ta cho nó tu và giữ những con ma như nó không chạm vào ta được.

 

Nó là Duy-thức của việc mê nhưng Duy-thức của tứ định, là nước đá với đường quậy chung khi gặp phải chanh chua.

 

Môn đệ, ta đi trên chiếc xe, ta tò mò lắm, ta ngó từng phản ứng của người lái, và kích động của chiếc xe; nhưng dễ gì ta được lái khi chưa học qua; nên ta nghiệm từng điểm của hành động, và sự việc vừa thấy. Ngộ lắm, ngộ lắm, lâu ngày dần quen trong trí, khi cầm lái xe, tâm-xác ta còn quýnh quáng, nhưng tâm-xác là đồ bỏ, ta dùng Duy-thức làm A-Lai-Da-Thức chơn, để rồi kết quả ai cũng giật mình.

 

Hãy đặt mình vào địa-vị của thám-báo những bản vía non kém, để nó lột vỏ A-Lại-Da-Thức như tương kế tựu kế vậy.

 

 

Môn đệ, ta đi pháp Định nhà Phật khi gặp cảnh tịnh của cõi giả; tâm ta vi veo theo tiếng rít êm ả của gió; trí ta thanh thản theo hương vị hữu tình; tánh ta yên lặng theo nhịp động vạn vật.

 

Hỡi ôi!

Ta tưởng ta thành Phật rồi, ai dè ta thành quỷ, vì tâm thức nó mê hoặc ta theo cảnh, ta rất buồn, nhưng ta vui vẻ vì duy thức đã tĩnh ta rằng: Xuôi theo là giả, cứng lại là giả luôn; uyển thay uyển đổi, nhưng tìm mối đồng về lại là rốt vẹn.

 

Tâm ta phải như ngọn cỏ xanh, vì gió đàn cỏ ngã, nhưng ngã không nằm, gió qua như củ. Đó là không cứng không mềm, không nhu không nhược, không thiện không ác là vậy.

 

Môn đệ, Duy-thức-môn dạy rằng: Hạ-thừa là Đại thừa; pháp thấp là pháp cao; giới ít là giới nhiều; thế nên đường tu của duy thức là trẻ lại già lên, trẻ lại và trẻ lại. Ta nhớ pháp tu hiện tại của chúng-sanh đủ thứ tột cao, ta nhìn lại bản linh chơn-tánh mình, thấy thiệt là không; ta buồn muốn khóc, nhưng: trong kinh Đại-thừa cho ta là Đại-thừa. Trung cho là trung; tiểu cho là tiểu; ta loạn kỳ tâm trí; nhưng xét rõ, nó chỉ là gọt bớt thêm sơn là đổi cả thượng trung hạ tiểu.

 

Môn đệ, khó quá, tu khó quá; nhưng dễ quá, vì khó thì ta bỏ khó, dễ cũng đừng cần, miễn tâm yên là dễ hơn cảnh giỏi.

 

Môn đệ, Duy-thức là tịnh-lạc; Duy-thức-môn nhiều tâm quá khứ nhưng đó chỉ là sự lý danh văn; còn tâm ấn tâm chỉ có tâm và tâm; tâm này thông tâm kia bằng kiên nhẫn và gọt giũa; chân-thừa là hai bàn tay bắt lại bằng Duy-thức-đốnDuy-thức-viên,Duy-thức-tiệm. Tổ và tổ sẽ ngộ nhau bằng Viên và Tiệm; và do nghĩa tiệm mà Duy-thức là rốt-ráo phải có của nhà tu, và đường chót của quả Phật.

 

Duy-thức là định tiệm; nghiệp-lực sẽ dần tiêu do công đức hoán tâm.

 

Môn đệ, Duy-thức thường bất trụ, nếu trụ lại chấp mê và ngoại đạo; vì pháp thường thay; tâm thường tiến, tánh thường sửa; một, hai, ba, bốn rồi năm và nữa nữa mới đến chổ rốt định. Tất cả các pháp đều cần, cần rồi bỏ pháp; như thế mới nói được lý của pháp.

 

Học Duy-thức là sự thấy bên trong như cơm vật trong bao tử; nhưng qua thời tiêu hóa, phải thải bỏ chất dơ và dùng thứ khác, đến lúc hết dùng pháp mà vẫn có pháp, tỉ hết dùng cơm mà vẫn no.

 

Môn đệ, thường cần của Duy-thức là bốn bước tiến: Chánh-tư-duy(nghiệm quán và đặt trụ chơn thật); sau đó là Chánh niệm( không rời lập trường do tư duy xét định); Chánh định( vững-chắc tự-nhiên); rốt cùng là phát sanh trí huệ dễ đắc vô sanh. Đó, tất cả bước tiệm của chân-thừa là như vậy, theo nghĩa Duy-thức.

 

Xét kỹ chơn thật và cố thuận việc hành đến nơi rốt ráo. Được thế mới đủ sức rõ về Duy-thức môn.

 

Một đệ, Duy-thức cũng giống như cái chớp, mới đó mất đó, nhưng cái mất ấy sẽ trở lại, và trở lại tốt đẹp và cao diệu hơn nữa; nếu dụng hoán pháp đến mức giải nghiệp.

 

Nếu hành theo Duy-thức nghiệp lực cũng sớm tiêu tan vì phút khắc thọ nghiệm pháp lành, tam độc bất sanh, vong-tử trợ-pháp nương đà tu học, như thế làm sao không tan trái buộc.

 

Giờ thủ tâm lành nghiệp oam trái dứt.

 

Môn đệ, ngoại giáo biệt truyền chính là môn Duy-thức chánh tông. Vì thế phải cố gắng lắm mới đạt đến quả căn Đại-định

 

Thiền tối thượng chính là Duy-thức, vì ấy là bước của hạng kiện-toàn đại chí.

 

Môn đệ, Duy-thức hay bất cứ pháp tông nào cũng vậy, thường lấy danh từ để nghiệm xét bản tâm, nhưng rốt cùng nào qua ba điểm tâm này: tâm thức(hay a-lai-da-thức), tâm cảnh(sáu thức biến do lục căn), tâm xác( hay vía biện luận hoặc chấp ngã thức, mạt na thức). mỗi thức có những biến hiện và thô, tế riêng; vì vậy mỗi chi cũng cần hoán nghiệm và đặc trụ cho nó vào thế tịnh, thế định là ổn vẹn.

 

Đừng chấp nhiều lý thuyết, hãy cố ráng thông lý, mà lý cần yếu là tâm không và tâm định.

 

  1. A-LẠI-DA-THỨC

A Lại Da Thức (Thức thứ 8) tức nghĩa của vía đáo trở(luân hồi) nó thường tạo những tác động trong lúc quá vui hay khổ buồn quá. Hành vi của nó luôn biểu hiện sự tội lỗi, và sức dục của nó như vũ bão gặp cuồng phong( nhất là dâm ái và kèm sự thúc liểm của các linh quang dâm đang bao chung xác thể để hưởng nhờ chất ấm của tứ đại). Thức này còn gọi là tánh tội (Sát, Đạo, Dâm, Vọng) và là quỷ dục của tánh tội hay tiềm thức(giới phạm do nhập cảnh)

Tâm: cảnh, sự thấy biết của sáu thức đầu tiên (nhãn….ý thức)
Thức: hiểu, rõ, thông, duy trì sự thấy, nghe bằng tư ý.

Nêu cao sự hiểu biết chơn thiện, thì tà kiến hay bát tà đều bị tiêu dứt , lúc đó thức thứ 8 này bị biến trở thành túc mạng thông.

Gió giông chỉ thổi nổi cây cứng vách to, chứ không đánh trốc cả những gốc cỏ mềm chịu nổi sức đàn lướt qua. Chính thế A Lại Da Thức chỉ giết những sức sung mãn của thể xác và thân mục yếu hèn, chứ không áp nổi lý trí chơn minh biết nương cảnh thế để sửa lòng.
……………………………………………………………………

  • Hàng thinh văn chấp vào giới nghi, tịch tịnh mà không hiểu rõ sự tịch tịnh là do đức hoán tịch.
  • Hàng Duyên Giác thích phá chấp mà quyền đốn lại thiếu tịch quang.

Cho nên cả hai đều dễ bị thức A Lại Da dục ngã; vì thiếu thấy cảnh tội, nên vía biện luận dắt lần theo vi tế dục của A Lại Da Thức đến lọt ngoài rào an tâm.

  • ……………………………………………………………………
    Dụng Duy Thức mỗi khi vào địa ngục; được thế nhiễm cảnh dễ thâu nhiếp và A Lại Da Thức trở thành trí huệ.
    ……………………………………………………………………
    Môn đệ: trong lứa tuổi thinh văn các người ưa phạm giới vì chấp giới. Bởi lẽ, sự lo sợ động đến giá luật đã ăn sâu vào trí tưởng, và do đó, tâm ngã chấp đã biến các người thành tự mãn. chính điều này các ngươi không ngờ thức thứ 8 đang sung mãn sau thời gian bị ép; chỉ phút giây thiếu cảnh trợ pháp là nó đánh đổ giới nghi các ngươi liền.
  • Đừng quá trốn cảnh, sợ pháp đến nổi chấp giới, sanh tự mãn giới, được thế, tư lương ít chứa sự quấy và sự kềm, thì đụng cảnh ý xấu không đủ dục nhất là đã quen với sự ngộ thúc của thức này: làm sao các ngươi tác phạm.
  • Môn đệ, các ngươi là hành thinh văn thì gắng đừng để ngã mạn trong giới nghi quá lắm, vì tam độc (tham, sân, si)dễ dậy nhất là bất kính pháp bồ tá và kinh phạm hạnh Duyên Giác, như vậy cũng là sự quấy cho đường tu các ngươi lắm.
  • Thức thứ 8 thường đưa hàng Thinh Văn vào dục giới phàm phu, bởi vì giới và luật không được tịch hoán, chỉ được đôi lúc thanh tịnh(Khi A Lại Da Thức đang giờ thao lại sức dục)
  • Môn đệ, hàng thinh văn các ngươi cứ rọ-rại trong thiền tịnh, tướng sắc, và nhất là còn chấp phước đức cá nhân, nên còn nhiều ủy mị hay đúng hơn là chấp ta. Đó chính là thể trí các ngươi bị thức Mạt Na ở cương vị tiên phuông của A Lại Da thúc đẩy; do đó sự ngã mạn dễ sanh, và các ngươi dễ dàng bị rớt.
  • Môn đệ, A Lại Da Thức và Mạt Na thức trong Duy Thức Môn là chủ tướng và là cấp lãnh đạo, còn sáu thức sau này như là thám báo; mà tên nguy hiểm nhất là tên thứ 6 gọi là Ý THỨC. Nếu trường hợp các ngươi muốn thắng được đám giặc này. hãy bắt cho được ba đứa nội công thứ 6,7,8; bằng triệt hạ nó không xuể vì tài ẩn trốn thì các ngươi cố gắng chặn đường liên lạc của nó với 5 tên giao liên nhãn, nhỉ, tỉ, thiệt, thân, ý.
  • Chiến trận gay go, hãy kiên nhẫn lắm mới bắt dính ba tên đầu đảng. Nên nhớ ba đứa này rất yêu nhau, nếu thâu phục – nhớ là thâu phục được một tên tự nhiên mặt trận của chúng sẽ rã tan.
  • Môn đệ, cơ quan thông tin, truyền tin do năm đứa bên ngoài thường liên hệ mật thiết và trực tiếp với ý thức: hãy khéo chặn nẽo đường thông đồng của nó, bằng lỡ sẩy tay để chúng gặp nhau rồi, hãy cố vững chắc thể tâm, dụng thể trí sáng minh chận đứng ngay hoạt động của ý thức;- nhớ kỹ, nếu tầm bành trướng của thức thứ sáu này truyền mật tin về A Lại Da Thức rồi, thì sự thất bại về điểm đó kể như ta lãnh trọn.
  • Mặt trận đã bị nội công ngoại kích, các ngươi phải khéo chặn sự liên lạc của năm tên giao liên. Hãy thủ ý chờ thức thứ sáu thâu xong tài liệu, các ngươi dùng ban định-tâm theo dõi lật ngược nó để lấy thêm tin tức. Như thế làm sao không thắng được.
  • Môn đệ muốn thắng trận, phải kiên nhẫn như bác nông dân chịu nắng mưa ngày này qua ngày khác, chẳng chút than van, hoặc tỉ như von voi chịu mát, tên, dao, búa giữa trận tiền đấu chọi.
  • Nếu không đủ nhẫn nhục để hoán cải đám giặc, tám tên này chắc không phương nào hoành thành phật quả. Chưa một loại nào vi diệu bằng chiến thắng tám thức đọa luân này bằng nhẫn nhục.
  • Chư phật tam thế sẽ không thành công trong việc tận độ, nếu một bá chủng nào bỏ đi lòng nhẫn-nhục để rèn xong tám thức trở về nhất đạo.
  • Môn đệ trong vạn pháp chẳng pháp nào thiếu sự nhẫn nhục mà nên việc. Vì thế lòng nhẫn nhục là Đạo-quả chơn như lai nếu hành trình phật sự trong vòng chánh định. Nhẫn nhục chính là chiếc hoa tròn đầy hương sắc vậy.
  • Môn đệ, xét hãy nghiệm xét cho kỹ từng vi tế một, như thế, công năng vô minh không biểu diễn được trong mỗi tâm sở các ngươi. Khi ngôi phẩm bồ tát liễu ngộ bước lên. Than ôi, vì thiếu kiên nhẫn trong hoán pháp nên thể tâm tướng, và tâm tánh của mọi loài khó trở về Phật đạo mà lý tồn rốt ráo: Đó là Duy thức tam chế cấp tiến( tiệm, đốn, viên).
  • Thiếu kiên nhẫn khó học duy thức, học duy thức thiếu nghiệm xét khó rửa vô minh(sở chấp); rửa vô minh không xong làm sao nói xong phần tịch hoán( giới giữ ngược).
  • Môn đệ nhìn vào tâm thức, xét ta còn móng vọng, muốn, tham một vi tế nào chăng? Thế nên bỏ Duy thức không một hành giả nào sống được cõi phật.
  • Không một tông nào bỏ hoán, dầu nói chỉ hạnh nhưng không hoán sao thấu toàn về pháp Chỉ. Đó, Duy thức là tột đỉnh của công phu tâm ấn thiền vậy.
  • Môn đệ, biến hoán pháp là tột độ của Như Lai căn bản thiền, thì đây, phẩm hoán này, các ngươi hãy dùng trong việc dò dẫm tên ma quân thứ sáu, đang lẫn lộn trong các thể tâm thiện, khi thâu hồi tâm thiện này bằng ngũ căn còn lại.
  • Nghe ta, ý thức ngoài sự tiếp lịnh của A Lại Da Thức và Mạ Na thức nó thường mãnh liệt mỗi lúc nhãn, nhỉ, tỷ, thiệt, thân, đưa những tâm thiện trở về sự biết chánh ở mỗi căn.
  • Môn đệ, cảnh vật bắt, nghe, thấy, nếm, chạm ngưởi là tâm thiện, vì nó vô tri giác. Khi nhãn, nhỉ, tỷ, thiêt, thân tiếp thụ những cảm nhăng từ ấy về thì chính các căn này khởi động sang ý thức, biến các sự vật trở thành mê dỗ, nên gọi là tâm ác. Vì hai sự lý ấy, tâm thiện không là Như Lai, Tâm ác chẳng xem là Phật. Thế nên xét kỹ giữa hai tâm nầy, ta thấy một thể trí viên dung chánh giác, đó là tâm phật 3 đời.
  • Phật không thiện không ác, vì sự vô tri giác không là Phật, và kích động ham muốn sao gọi tiếng Như Lai? Thế nên, Phật là chơn như, tức bất xê chơn, trước cảnh, tâm không dục muốn ham, đó chính là chơn thừa bất nhị.
    Môn đệ đã biết cảnh là tâm vì không có sự cảnh làm sao có lý tâm phát khởi. Cảnh vọng tâm có 2 loại; cảnh thực hữu và cảnh tư lương(Sự thấy của A Lại Da Thức). Thế nên thiết nghĩa của Thiện Tâm và ác tâm có sự liên hệ mật yếu; vì cảnh này tỉ sắc đẹp nam nữ – nó có chi là quấy rối. Bởi đó là cấu dựng tiến hóa của vạn loại; cho nên, gọi đây là thể phát động lên một khuôn tâm(cảnh là tâm). Nhưng tâm này có đủ những thô tế bài báng thu hút vô minh, mà sực tác động của sau thức(6 căn) tùy sự cứng chắc hay ủy mị, thì sự lý ấy là do thức tiếp dẫn(ý thức) lãnh phần trách nhiệm. nên tâm ác cũng do thức này tạo ra và tâm Như Lai cũng trung dung tịch trụ từ nơi thức thứ sáu này.
  • Môn đệ, ý thức là tiềm năng phát sanh đối tượng. Nếu thụ tiếp tâm thiện, mà sục sôi móng dục thì đó là địa ngục. Bằng tiếp nhận tư cách duy thức( khi tu học) hoặc chơn như(vô tác sáu thứ) thì đó là tâm tịch tịnh của tam thế phật vậy.
  • Môn đệ, tỉ dụ người nam người nữ nào đó – chính thị tâm thiện – khi thức 6 thấy nghe chạm ngửi, thì từ ngủ căn này chuyển về phẩm ý thức(thức thứ 6).
  • Nếu ý thức nghĩ bậy móng vọng, thì tâm cảnh (thiện) đã quay bản ngã trở về sai lệch gọi là tâm ác hay tâm địa ngục.
  • Bằng trước sự tiếp tâm cảnh(thiện) này mà ngũ căn không kích thích về ý thức(vô tác) cứ mặc thấy nghe chạm ngửi không bợn nhiễm muốn ham. Đó là Tâm Như Lai.
  • Môn đệ tâm thiện chưa phải là Phật, vì nó thuộc của người, có thể nó là phẩm trợ đạo mà thôi. Còn tâm ác(ý-thức vọng) làm sao gọi là phật được; Thế nên giữa hai tâm này là tâm chơn như của chưa phật. Hãy cốt gãy sự dục móng của ý thức bằng duy trì hoán xét, để năm thức đầu không cấu nổi với thức thứ sáu mà tạo tác sái càng.
  • Môn đệ, thức ý rất hiểm nguy vì Phật, Thánh, Quỉ, ma thường do nó đứng địa vị quang trọng tạo tác. Từ A Lại Da Thức hay Mạt na thức chuyển động , thì thức ý này cũng phụ trợ nhiều về phương diện tiện, nhứt là càng chuyển tâm thiện thực hữu bằng tiếp thẳng với năm thức bên ngoài, để thúc dục đầy đủ hơn về tác phạm. Hãy cố chận bắt ý thức đừng để nó chủ động trong việc điều hành năm thức đầu.
  • Nên nhớ tất cả sự hiện diện trước mắt, chánh kiến các ngươi còn chưa rõ, thì đừng tin tưởng vào các mộng mị, mơ tưởng, móng ham về sau hay vượt về quá khứ, đó mới gọi là Chơn Như Lai Phật được.
  • Môn đệ, ý thức là thể tiếp dẫn những sự, lý gì do năm thức đầu phản ứng. nó mau mắn biến chế sự thô trở về tế theo khả năng tột đỉnh của nó. THế nên khóe léo tạo cho tư tưởng(ý thức) được trong sạch, hãy dùng tư tưởng trước thiện Đạo, như vậy, ý thức dễ trở về mức độ vô tác. Phật quả dễ đạt được.
  • Phật thánh, quỷ ma đều do sự tác động của ý thức. Thế nên giáo huấn cho nó bằng sự hiểu biết, chớ đừng ép uổng, buông lơi. Tất cả sở trưởng của Duy Thức Môn là hoán cải mà thôi.
  • Môn đệ, A La Hán cảnh là nụ cười vi tế, nên đức hỷ lạc trong Duy Thức môn bảo rằng: Dễ Giáo Huấn Ma. Thế nên sự đạt ngộ Kim Cang pháp đến đoạt Hậu Đắc Sai Biệt Trí là cao tột. Vì vậy hàng này ít bị thức Mat Na dục ngã, bởi mỗi hiện dục nổi lên là bị định tâm theo dõi chận ngã, ngăn đường.
  • Định tâm theo dõi là tên gián điệp lão luyện, nó chuyên rình mò để giáo huấn thức Mạt Na tiềm tế, đó là hạnh trí A La Hán cảnh.
  • Môn đệ, định tâm theo dõi là gì?
    Nó chính là thể trí “thò lõ” nó ngồi ở hư không để nhìn, ngó, tầm, xét bất cứ tư tưởng gì ứng hiện. nhứt đầu và tế nhị lắm mới hình thành trí này. Nó là trí xét quang minh và chớp nháng những tư tưởng ngôn văn. tỉ như, các ngươi đang nói một câu này ra, nó đã thành lập ý khác tiếp tục liền, khỏi cần kiểm xét đến bảy lần uốn lưỡi. và nhất là nhiều lúc các ngươi bàn luận, thì nó lò mò ghi chú những câu nói, vấn, đáp một cách sắc sảo.
  • A Lại Da Thức và Mạt Na thức thường bị tên gián điệp này phá tan, nó là pháp hoán duy thức, một mấu chốt rực rỡ và hòa toàn.
  • Môn đệ, hoán duy thức là để tâm theo dõi cảnh, đến khi cảnh và tâm nhập một, lúc đó thể trí hoán ẩn hiện đeo bên tâm này để làm hề cải sửa đến vẹn toàn.
  • Mọi sự thành công của quả phật thường do phép hoán này tạo nên vì đây là nghiệm lý từ, bi, hỷ,xã và là pháp thông ngộ lý sanh diệt, diệt sanh trong vạn pháp vậy. Dụ dỗ là yếu cần trong Duy Thức.
  • Môn đệ, A La Hán Cảnh thường đắc pháp này, đó là nhờ nhập cảnh, nên tâm nghệ sĩ thường trụ, vì vậy phát tướng ra là thiên ma đều răng rắc nghe học.
  • Sự sâu sắc ở nội tâm là yếu nghĩa chơn như; còn thô mịch hình tướng là điểm tế nhị của Bồ Tát liễu ngộ (A La Hán Cảnh). Tất cả sự dụng cảnh làm thể, mà thiền uy của nội tánh chiếu khai độ sửa.
  • Môn đệ, thiền pháp của A La Hán Cảnh nhằm sự hoán tịch để hóa độ các thức. Một sự kích động nào của tám thức vừa đột khởi thì bị ngay thiền pháp của bực này giác ngộ. Đó là lối [Lạc Hỷ Tiếu Hoán]
    Đi đứng, nằm, ngồi, uống, ăn, ngủ, nghỉ, thức mê, hay tĩnh…bất cứ giờ nào cũng áp dụng định hoán, tịch hoán, chớ không chấp tịnh là thiền như Tiểu thừa. cũng không bỏ thiền bỏ tịnh, bỏ bất nhị như Bồ Tát phàm, và nhất là không ẩn nương thiếu trí Kim Cang như A La Hán – Tiên.
  • A La Hán thánh là mức thiền tha giác. A La hán tiên là trình độ dễ sụp bởi mỗi thể khác nhau như: trốn cảnh thâu tâm và nhập cảnh để nhiếp hữu lậu.
  • Môn đệ, thiền pháp của A la Hán thánh là mức độ toàn không và toàn sắc, công năng khai giá trì phạm liệt vào hàng phương tiện trang nghiêm. Giờ nào cũng chơn như, và nhiều khi chơn như trong vọng loạn; và những lúc định mà loạn, loạn mà định này là ích lợi độ ma ít người phàm phu thấu tột.
  • Tịch trụ trong thể sắc mới đúng lý giác tha. Thiền trong thể tướng bất thiền là nhơn duyên khai ngộ A La Hán Cảnh, phóng tướng định tâm. A La Hán tịnh phóng tướng dễ ngã tay leo.
  • Môn đệ, tịnh đạt lục thông, nhưng giữa hai hạng A La hán này có những điểm khác nhau đặc biệt. A La hán Tiên chỉ nhiếp tâm mình trong chốn tịch trụ, chờ giờ trở lại hư không với ngôi phẩm Đồng Cư, vì còn sợ phàm phu nên sa vào cõi phàm thánh. Đó là vọng sanh cảnh nhập. Trái lại A La Hán cảnh(thánh) là mức nhập thế hành đạo, oan gia còn vương vấn, chỉ do Tứ Đức Vô Lượng sanh ra; bậc này khi nào, lúc nào cũng là phương tiện dể dẫn dìu kẻ thấp tiến cao, kẻ cao trở lại, đúng theo lý Bất Nhị chơn Đế; nên luôn ở vào cõi phương tiện hữu dư mà huấn dạy chúng sanh.
  • HÃY MỞ RỘNG LÒNG TỪ BI HỶ XÃ ĐỪNG NHIẾP CÁ NHÂN
    Vì thế Mạt na chấp pháp, chấp quả sẽ làm chủ lương năng.
  • Môn đệ, A Lại Da Thức, Mạt Na thức là bản ngã liên đôi, sự dục kèm sự mê hoặc chấp ta. Nghĩa là, thức thứ 8 đưa lên dự án sái quấy, thức 7 chặn đứng tâm vương, bằng biện lý bắt tội và nhất là sự thúc dục quá mạnh của thức thứ 6 còn lại; nếu hành giả không cố rèn, giũa toại phần Duy Thức trong phẩm tịch hoán, chắc chắn hai con quỷ vương đó giết thác sự an tâm dễ dàng.
  • Mạnh dạng xét nét, cứng rắng đối trị với tà tâm, trừ tuyệt vọng loạn; khai minh mê si, dứt tiêu chấp trươc. Muốn được như vậy dùng pháp: << Hiện tại ta chưa xét xong, đừng nghĩ nhiều về mộng mị, hoặc quá khứ, hoặc vị lai>>
  • Môn đệ, muôn sự muôn việc nếu không áp dụng phương pháp: khai thị bằng thiền hoán để ngộ nhập sự lý vô trụ; thì khó thể hành giả thấu đạt diệu tâm chơn như chánh định. Thế nên xét cho kỹ về phẩm tứ thiền tứ định, không thiện-tri-thức nào không rõ đó là pháp lột xác các thức trở về với thể rổng của chơn không. Ngày nay tâm vương thường mất ghế, bá quan văn võ chỉ đám nịnh thần; vì thế phải khó khăn lắm và tế nhị lắm mới đủ khả năng hoán cải đám thiên ma này, được vậy chủ nhân ông đã có các thức đà qui. Khi vạn thức qui, ngẫm ra thì có một; khi mê thức sanh hàng vạn, lúc ngộ thức biến hàng trăm, đến chừng vẹn định, tất cả gom vào các tiếng chơn-như-lai-tạng.
  • Hàng chấp tướng tịnh thiền, và thủ lợi riêng tư, nên dễ nổi tham, sân si, đến phá giới.
  • Chấp ta và tự mãn thường đưa hàng Thinh Văn vào tham dục; đừng..bỏ đi ngã ái và đam mê để trở về với sáng suốt hơn.
  • Muốn kiến đạo quả, thì chấp trước thân ta đừng chứa trong thể trí, được vậy, tâm ta dễ về an tịnh.
  • Môn đệ, hàng thinh văn có cái tệ lớn là chấp ta, nên bị giới cuốn đến tác phạm. Trong đó, bậc Duyên giác càng diệu kỹ hơn về chổ chấp ấy là chấp pháp và ngã mạn.
  • Thinh văn có tự mãn nên rớt
  • Duyên Giác vì ngã mạn đành rơi.
  • Môn đệ, Duyên Giác đã khá trừ kiến hoặc, ít chấp thân, chỉ độc tôn và nguy kịch hơn là chấp pháp cùng quả vị. Chính đó là con đường bí và nẽo cận phàm phu với ngoại đạo tà thần.
  • Hãy nghe ta, môn đệ, đừng mê muội ngã-si, như thế các ngươi dễ lạc sang tà đạo lắm.
  • Môn đệ các ngươi đã liệt vào hàng Duyên Giác, ta muốn các ngươi hãy nhẫn pháp, tức là đừng mê vào cái cao của ta. Chính trường hợp sau của các ngươi này: Đứa trẻ nói hơn cha hiện nay; năm ba năm khá trí, nó chỉ bằng chứ không hơn; và rốt cùng của tuệ não, nó trở lại hàng thiếu xót. Đó chính là Duyên Giác các ngươi thường phạm và điểm thiết quan này lắm.
  • Phật lý rất thâm diệu, cặp mắt Duyên Giác các người còn bị A Lại Da Thức che ám nhiều lắm; nên các cảnh giới vô minh chưa thể nào vẹt tan được
  • Môn đệ, vào hàng Duyên Giác thức thứ 8 thường dục các ngươi chấp sự chấp bằng vô chấp; nếu các ngươi mãi đuổi theo mức chấp mà quên lẽ tự nhiên(thanh-tịnh) thì thể trí chắc thường đảo lộn, dễ biến thành ngoại giáo.
  • Nghe một tiếng, biết một câu, hiểu một điều, đừng để đến quá nông nổi, Hỡi các hàng Duyên Giác các ngươi thường dục tốc nên thông sự, lý của mọi việc chằng được rốt ráo, như thế đường đạo dễ dàng bị bế tắc.
  • Môn đệ các ngươi thường suy luận với thể ngôn Duyên Giác rằng : Ta cũng viết nói pháp này như ổng bả, tại sao ổng bả lại chê kém khuyết? Đây này sự hiểu của các ngươi có được là do sự dạy của ổng bả.
  • Thầy, Bồ Tát, nên mức ngộ của các ngươi có, chớ mức giác hay viên chưa tròn được. Nếu không suy nghĩ kỹ chánh kiến. các ngươi phải bị đọa pháp vì bất kính thầy và sanh ngã mạn. vô lễ. Rất khó bước về Vô Tác Như Lai.
  • Duyên Giác thường mất pháp, đọa tâm, và phiền não. Bởi A Lại Da Thức còn dục Mạt Na sanh lòng ngoại giáo.
  • Môn đệ, Hàng Duyên Giác các ngươi hãy xét cho kỹ đạo vô ngã, vô pháp, kẽo chấp quá nặng, các ngươi vào hố sâu.
  • Bỏ luật giới là Duyên Giác, chấp luật giới là Thinh Văn. Cả hai đều khó an tâm khi phạm những mức chấp này.
  • Môn đệ A Lại Da Thức thường biến hiện sát hại hàng Thinh Văn, như đoàn quân vừa cũng cố lực lượng và tiêu diệt hàng Duyên Giác, như đám nội công thường trực để cướp thành. Các ngươi phải cố gắng lắm mới được vì:
  • Thinh Văn chấp giới bị kẹp pháp
  • Duyên Giác bỏ chấp sanh cái chấp, lại to gấp bội và dễ thành ngoại đạo.
  • Hãy an tâm bằng Tịch Hoán, là pháp tư duy chuyển về pháp niệm, và rốt ráo là giới giữ ngược.
  • Môn đệ, Thinh Văn và Duyên Giác là bổn phận các ngươi hãy nhớ, cố tiến về quả Bồ Tát và Vô Tác; đừng để duyên trần vi cấu mãi, khéo bị pháp đâm và pháp vọng cám dỗ, các ngươi như trừu non ấy.
  • Duy Thức để thông lý sanh diệt chứ đừng để hiểu hay ngộ suông.
  • Môn đệ nếu các ngươi là hàng Bồ Tát hãy cố gắng lắm mới diệt được phẩm vô minh cuối. Ví A Lại Da Thức vẫn còn đủ hơi tàn để làm hổng tay các ngươi đấy.
  • Môn đệ, Duy Thức nụ cười ta đã biến thức này thành trí tuệ, và trí tuệ đó là những bài học cho các ngươi vậy.
  • Môn đệ, Bồ Tát còn mê lắm vì còn chấp Quả Vị, nên thường gặp thức này trong Mạt Na; và thường bị đánh rớt cũng như Thinh Văn và Duyên Giác, nếu không biết dụng (Thức Tiếu) tâm định theo dõi để cải sửa cảnh dục về cảnh pháp.
  • Môn đệ, Bồ Tát đừng sợ giới cảnh, đừng lo A Lại Da Thức ám hại, ta có phép này cho các ngươi. “Nụ cười định tâm theo dõi” đây là Duy Thức Tiếu. Nó sẽ đưa các ngươi về sự thắng.
  • Sợ quỷ phá, giết quỷ quỷ trốn, hãy vui vẻ dụ nó. Đó là không thiện mà thiện, không ác mà ác.
  • Môn đệ, làm thân Bồ Tát thì phải tát cho sạch ba cái hữu lậu, vì phiền não thường sanh từ thức cảnh( cảnh tội lỗi hay cảnh giới), mà thức cảnh thường bị dục bởi đám linh quang bu quanh các ngươi, còn linh quang mê này là bộ hạ của A Lại Da Thức. Chết, đi đến đâu cũng gặp nó, muốn hại nó chết, không được, đuổi nó đi vô ích; chỉ còn nước là dụ nó tu, và cùng đắc với mình.
  • Làm thuyết khách trước hết phải duy thức, dầu giới chưa giữ ngược, chớ niệm cũng đủ phản tác với đối phương rồi: không thắng cũng không đến nổi chạy mất mão hia. Tu khéo cây gươm hoán tịch lục thì cù nhầy khó coi.
  • Môn đệ ai nói Bồ Tát không mưu sĩ, không biết dụng quân: nó đã bao vây rồi “mãnh hồ nan địch quần hồ” nó đang dồn ta vào thế kẹt. Kệ tử sinh chỉ một phen này, hãy bình tĩnh ngồi xuống nhìn đám quái khỉ. Cười cho tươi vì tới giờ chết mà khóc cũng chết. Cười cho nó bắt; nó thấy mình bình tĩnh nó sựng ngược mất tinh thần; lúc đó thiếu gì đường tẩu thoát và gạt nó như đồ bỏ để dụ nó theo mình. Như thế phải khỏe không.
  • Nó tới đám dục này chỉ còn vương chút ít thức thứ 8, chớ chẳng nhiều, hãy cố dụ địch vì với hàng Bồ Tát thì bảy thức còn lại có gì phải sợ. Nhớ kỹ coi chừng mất Duy Thức và bị Mạt Na thức cướp pháp vô ngã khó làm nên.
  • Môn đệ, ở cương vị Bồ Tát dầu không chấp pháp, chấp thân; nhưng còn bị Mạt Na thức thúc đẩy dữ lắm, vì thế đừng để mất tịch hoán giả thân. Được thế sắc không không sắc pháp để đạt đến đích.
  • Bồ Tát còn vào mối vô minh của chúng sanh; đó là chấp thân vì thức biện luận bảo là cố giữ sự ích cho đại thể. Đây là luận lý vô minh rốt trong thể trí Bồ Tát.
  • Môn đệ, Bồ Tát ít khi ngã mạn; tham dục; nhưng tự mãn ngầm trong thức thứ 7 đã làm hoại pháp hạnh của hạng này nhiều lắm. Nhưng bất cứ thiện ác nào đã tới hàng Bồ Tát biết dụng Duy Thức Tiếu để đảo cảnh. Thì giới giữ ngược sẽ trở lại làm bộ hạ cho mình.
  • Hãy dùng Duy thức, các hàng Bồ Tát. Duy Thức là biến trở tất cả tội lỗi. Nó không diệt nhưng sự sanh lại là điểm tịch tàn.
  • Môn đệ, pháp thức của Duy Thức thường đối trị rất thần diệu sự đáo lại của A Lại Da Thức. Thinh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát hay bất cứ hàng phàm phu thánh giới nào nếu chịu dụng Duy Thức làm môn căn bản. sẽ thấy Đại Định là sự dễ thành.
  • Môn đệ, hãy xem sự hành của ta về Duy Thức, bằng nhất pháp biến trở: đó là Tịch Hoán Tiếu cảnh( cười trong xét, xét thành niệm, niệm thành giới giữ ngược).
  • Môn đệ, các bậc A La Hán thường để pháp đánh mình và đưa lưng ra chịu chớ không chống trả. Nhưng vắt sắt làm so có thể so với thể không vi diệu trong nụ cười an tâm.
  • Ta biết ta lắm, nó hung hăng, nó dễ dạy, nó thuận chiều, nó phản kích, nó đủ phương thế để đánh ngã ta; Kệ mồ nó. Ta thường nói. Khà khà, nó giận quá, nhưng rốt cùng nó tức cười thành ra nó thiệt là con ta.
  • Môn đệ, ở đâu ta cũng thấy an tâm, chốn nào ta cũng được bình tịnh, và nơi nào có ta đến, nó và chúng không đủ sức làm ta buồn. Nhất là nó bị ta thâu làm đệ tử. Tất cả đều do pháp Duy Thức Tiếu mà nên.
  • NÀY CƯỜI HÃY CƯỜI, NỤ CƯỜI CỦA DUY THỨC chính là tối thượng thừa Thiền Phật đạo. Nương vào nụ cười của ta để cười cho giống lối Duy Thức môn, như thế, Thiên Ma sẽ làm phẩm trợ đạo cho Thinh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát về phẩm A La Hán Như Lai.
  • Môn đệ, hãy vui với đám quỷ, hãy thật tâm với nó. Nên nhớ phải định tâm bằng Duy Thức để xét đáo triệt những pháp diệu-pháp xuất từ tánh tướng tự nó. để tìm phương độ nó về chung đường với mình.
  • Nếu là Bồ Tát thường khó bỏ qua Duy Thức môn; và bước vào con đường tịch hoán, thì bất cứ nơi nào, cùng loại giống nào, cũng không là thứ đối tượng sái quấy.
  • Môn đệ, Duy thức là pháp môn thiền cảm hóa, nghĩa là đứng trước một sự cảnh, tâm vẫn luôn định, trí luôn cao thượng chơn như, thì tất cả sự dục sẽ mất ở tâm đối tượng.
  • Đại định là mức thông truyền cảm hóa, cao diệu, các Bồ Tát, A La Hán cần xét sự lôi níu tha giác của đức hạnh mình. Đó là Duy Thức Tối thượng thừa thiền.
  • Môn đệ, Thinh Văn Duyên Giác có lỗi học Duy Thức khác nhau. Thinh Văn Sẽ trở về A La Hán; Duyên Giác sẽ trở về cái thể tánh thinh văn và ngạ quỉ vì chấp lầm chánh kiến. Nên các hoặc phiền não, sân, tham ưa biến hành giả trở thành sái lệch.
  • Hãy định xét cho kỹ, vì Duy Thức là bươc tiến vào ngõ tối, để lục soạn vô minh. Không bắt gốc rể cho đủ, khó trị cho xong chấp vọng bệnh ngay.
  • Môn đệ, A Lại Da Thức nó tiềm ẩn trong kẹt hóc rất khó thấy, mà thấy rồi không dễ gì bắt nó ra khỏi kẹt, hang đương trốn. Khéo léo và kiên nhẫn lắm mới thấu phương thức dụ nó ra. Giết nó không chết, bắt nó không được. Đây này, lấy kẹo ngọt, cười với nó là dễ thành công. vì nó là thức hảo ngọt.
  • Dễ gì dụ nó nếu không khéo léo. Giết mất từ bi và cắt nó ra như đĩa rồi trả về nươc, một sẽ trở thành trăm. Hãy cố gắng

3 MẠT NA THỨC

  • Trích lời sư phụ:
    Môn đệ các ngươi đã rõ thức A Lại Da Thức bây giờ hãy xét kỹ về Mạt Na thức – vị tiên phuông để thắng ván đầu mới đủ sức làm tướng chủ động trên chiến trường.
  • Hãy đánh ngã tên đầu để khai thác nội bộ, tự nhiên cánh tay mặt của A Lại Da Thức như bất dụng.
  • Môn đệ, Tâm xác, vía biện luận, thức Mạt Na hay chấp ngã cũng là tên của đứa tiên phuông cho A Lại Da Thức. Tâm này thường biểu dương sự đam mê, mà lý trí dầu sáng suốt cũng khó thể bình. Tỉ dụ trước sự dâm, trí tuệ rất minh mẩn và cố tránh, nhưng sự kích thích vẫn bùng trỗi; nếu không cố sức thắng nó, sự cảnh sẽ bị tánh biện luận cho là tốt đẹp, lúc đó mới là dễ sụp đổ.
  • Hãy dụng thể tánh Kim Cang để thắng thức Mạt Na; kẻo mất tánh đại hùng – đại lực.
  • Môn đệ, Mạt Na thức thường bảo ngươi rằng: thân này rất quí, pháp đó của ta, để rồi sanh ra những điều sai lệch của sở chấp. Hãy cố dụng duy thức vô ngã để tránh những tệ hại trầm trọng ấy.
  • Phản xạ tự nhiên cũng là một trong các tánh của thức Mạt Na.
  • Môn đệ khi kiến cảnh khó, thức mạt na sẽ bảo các người rằng: thứ đó làm vô ích, việc ấy vì hoàn cảnh, không thể nào bị định tội. Nó biện luận rất khéo, và nó rất ngọt như mụ tú dụ dỗ gái tơ, và, thức này rất phản trắc và sái quấy, nếu nó dùng dịu ngọt không đặng, nó sẽ đai nghiến các ngươi, cho tâm các ngươi khổ vào địa ngục.
  • Đừng mê trí, hãy duy thức, tức là xét rõ kỹ sự lý các việc đừng bị thức này đàn áp.
  • Môn đệ, thức thứ 7 này rất nguy hiểm, nó ào ạt hơn thức thứ 8; nó thường bị xách động bởi thức thứ 8 đến cuồng tín; vì thế, hãy cẩn thận lắm mới an tâm trước nó.
  • Cố gắng đạp bỏ những giả dối của bản tâm, hãy tự tín, cam chịu, và cứng rắn để biến trở thức Mạt Na này.
  • Nguy lắm hỡi Môn đệ, cố gắng lắm mới thắng thức này, chính nó thường được ví hơn muôn quân ngoài chiến trận
  • Hàng thinh văn ví quá chấp giới nên thức này cũng chịu ẩn, nhưng nó sẽ trở lại khi bản tâm tự giác bị buông lung. và hành giả phải rơi vào tay khi mất phẩm trợ đạo.
  • Hàng thinh văn thường bị thức này đốt tiêu. Hãy dùng thiền pháp liên hoa, hay duy thức môn để đốn trị.
  • Môn đệ, Mạt Na Thức là tiên phuông cho A Lại Da Thức nhưng nó quái ác và thiển tâm; thế nên, đứng về phương diện thư hùng, nó chỉ muốn ta là oai dũng, tuyệt đối nhất là, nó thường lạm dụng để che đậy sự thấy biết của chủ tướng thức thứ 8 – nên rốt cùng, cảnh thất bại là điều khó tránh.
  • Mạt Na Thức vì chấp ta quá lớn. nên mỗi khi tiếp nhân công sự cùng A Lại Da Thức. thì, ngã chấp này trở thành u mê, và sự gột rửa hậu-đắc-trí từ A Lại Da Thức là điều khó tính.
  • Môn đệ, thức thứ 7 là bản ngã tự cao, nó thúc dục sự vô lễ, nó phân tính người và ta. Chính thức này là phản tác của đạo phật. đó là phân ngôi. Vì thế đôi khi diệt được u mê từ nó rồi, thì thể trí bình đẳng sẽ phát hiện.
  • Hãy quan sát kỹ về lý bình đẳng, và sự sanh diệt hoại không của vạn vật. Để diệt trừ tâm vô minh của thức Mạt na này.
  • Môn đệ, bình đẳng tánh trí là mặt gương bằng ngang sáng suốt không chênh lệch.Sau khi thức Mạt Na bị sức tịch hoán “Sắc không pháp” viên thành thì thức này đúng là bị cả ngôi đế, biết người biết ta, vạn vật đồng thể tướng tâm. Đó gọi là bình đẳng tánh trí vậy.
  • Tên ăn cướp trở thành phật. chớ đem tên sát nhân lên đoạn đầu đài, đó chính là hạnh bồ tát, chư phật. Vì đây là yếu điểm mặc nhiên và thiết cần của hành giả khi bước về phật địa.
  • Môn đệ, hàng Thinh Văn rất đủ sức thọ chết, thọ khổ để trả nghiệp, để tiếp cứu độ nhưng, thời gian hành sự phải cấp tốc, vì đó là bản ngã sôi bỏng, nếu để lâu, thức biện luận sẽ lần lần đánh đổ chí Đại hùng – đại lực, nhiều lúc đến nổi nhát tay leo sắp rớt.
  • Mạt Na thức, thức chấp ta, nó hiện lên với đủ tư thế thiết cần, và nhất là đủ đầy khí giới để tàn sát căn bản trí của hàng thinh văn.
  • Môn đệ hàng Thinh Văn sẽ tư lự, mộng mơ, nhất là gục đầu đến xót xa, đau đớn. Than ôi! cảnh thế thật là cai đắng, phận tu hành cứ gút mắc chặn đường, biết làm sao thoát khỏi cảnh trầm luân khó khổ,để tiến đến chốn an tâm. Muốn thế nghe đây, hàng thinh văn, các ngươi có biết rằng, từ thức Mạt Na sự phát sinh “chấp ngã” là phần tột đỉnh; nên mỗi việc gì cũng có sự lụy bi đến rốt cùng là thất bại.
  • Hãy thường tịnh, thướng hoán. nên nhớ “vô ngã pháp” và “thế gian hoại” là hai yếu môn thiết thực để đánh ngã đối phương thức thứ 7 vậy.
  • Môn đệ, hàng Duyên Giác càng ngộ hơn về hoạt động của thức Mạt Na. Thinh văn chấp thân ta, Duyên Giác chấp pháp ta. Thật là khổ, hai sở chấp thứ nào cũng nguy khốn cho bước về đạo quả. Nhưng lọc kỹ nó có những phân biệt thế này:
  • Thinh Văn: khi chấp ta thì ưu quýnh quáng, sợ sệt nên mỗi khi đều hướng về sấm hối. và thủ kính lễ giới.
  • Duyên Giác: khi chấp pháp vì phá giới,tâm hồn bị đảo lộn, Thức Mạt Na càng tấn công, ý thức bổ túc quay hành giả đến điên đảo. Khi phạm cảnh này, hàng Duyên Giác thường tạo tác vô lễ, mất nghi điều và hay củ rũ, bởi động thần mất hướng.
  • Thinh văn mất pháp vì sợ giới – Duyên Giác tỉ chiếc tàu bể giữa cơn giông, nếu lướt qua sóng dữ, tay lái trở thành bồ tát. bằng trái lại. Mạt na thức sẽ dẫn hành giả vào cõi chấp niết bàn. đến độ hủy phá niết bàn. bởi sự giác còn nông, thô nên rốt cùng sa vào địa ngục. vì cho cõi trời vô tưởng là thật nên khi đáo trở phàm phu liền sanh tâm đốn ngã Niết Bàn.
  • Môn đệ, hàng Thinh Văn, Duyên Giác vì quá nông trong khai, giá và tịch hoán, nên mọi sự thường đi đến bất an tâm. Nhưng sự tinh tấn và sáng suốt, vẫn đưa hành giả kiến Như -Lai – Tâm. để tự giải thoát và giác tha. trong khi đó bồ tát vẫn bị Mạt Na Thức nầy làm rối trí bởi: chấp ngã ít móng, chấp pháp là vi trần, nhưng nhiều sự cảnh thay đổi đến rào rạt cả thân tâm, và nóng mặt. Nói thế Bồ tát vẫn đủ sức mò mẫm để giáo huấn cho hàng chắc, chít thức thứ 7 oái oăm này.
  1. Ý THỨC
    Môn đệ, A Lại Da Thức và Mạt Na thức trong Duy Thức Môn là chủ tướng và là cấp lãnh đạo, còn sáu thức sau này như là thám báo; mà tên nguy hiểm nhất là tên thứ 6 gọi là Ý THỨC. Nếu trường hợp các ngươi muốn thắng được đám giặc này. hãy bắt cho được ba đứa nội công thứ 6,7,8; bằng triệt hạ nó không xuể vì tài ẩn trốn thì các ngươi cố gắng chặn đường liên lạc của nó với 5 tên giao liên nhãn, nhỉ, tỉ, thiệt, thân, ý.

 

  • Chiến trận gay go, hãy kiên nhẫn lắm mới bắt dính ba tên đầu đảng. Nên nhớ ba đứa này rất yêu nhau, nếu thâu phục – nhớ là thâu phục được một tên tự nhiên mặt trận của chúng sẽ rã tan.
  • Môn đệ, cơ quan thông tin, truyền tin do năm đứa bên ngoài thường liên hệ mật thiết và trực tiếp với ý thức: hãy khéo chặn nẽo đường thông đồng của nó, bằng lỡ sẩy tay để chúng gặp nhau rồi, hãy cố vững chắc thể tâm, dụng thể trí sáng minh chận đứng ngay hoạt động của ý thức;- nhớ kỹ, nếu tầm bành trướng của thức thứ sáu này truyền mật tin về A Lại Da Thức rồi, thì sự thất bại về điểm đó kể như ta lãnh trọn.
  • Mặt trận đã bị nội công ngoại kích, các ngươi phải khéo chặn sự liên lạc của năm tên giao liên. Hãy thủ ý chờ thức thứ sáu thâu xong tài liệu, các ngươi dùng ban định-tâm theo dõi lật ngược nó để lấy thêm tin tức. Như thế làm sao không thắng được.
  • Môn đệ muốn thắng trận, phải kiên nhẫn như bác nông dân chịu nắng mưa ngày này qua ngày khác, chẳng chút than van, hoặc tỉ như von voi chịu mát, tên, dao, búa giữa trận tiền đấu chọi.
  • Nếu không đủ nhẫn nhục để hoán cải đám giặc, tám tên này chắc không phương nào hoành thành phật quả. Chưa một loại nào vi diệu bằng chiến thắng tám thức đọa luân này bằng nhẫn nhục.
  • Chư phật tam thế sẽ không thành công trong việc tận độ, nếu một bá chủng nào bỏ đi lòng nhẫn-nhục để rèn xong tám thức trở về nhất đạo.
  • Môn đệ trong vạn pháp chẳng pháp nào thiếu sự nhẫn nhục mà nên việc. Vì thế lòng nhẫn nhục là Đạo-quả chơn như lai nếu hành trình phật sự trong vòng chánh định. Nhẫn nhục chính là chiếc hoa tròn đầy hương sắc vậy.
  • Môn đệ, xét hãy nghiệm xét cho kỹ từng vi tế một, như thế, công năng vô minh không biểu diễn được trong mỗi tâm sở các ngươi. Khi ngôi phẩm bồ tát liễu ngộ bước lên. Than ôi, vì thiếu kiên nhẫn trong hoán pháp nên thể tâm tướng, và tâm tánh của mọi loài khó trở về Phật đạo mà lý tồn rốt ráo: Đó là Duy thức tam chế cấp tiến( tiệm, đốn, viên).
  • Thiếu kiên nhẫn khó học duy thức, học duy thức thiếu nghiệm xét khó rửa vô minh(sở chấp); rửa vô minh không xong làm sao nói xong phần tịch hoán( giới giữ ngược).
  • Môn đệ nhìn vào tâm thức, xét ta còn móng vọng, muốn, tham một vi tế nào chăng? Thế nên bỏ Duy thức không một hành giả nào sống được cõi Phật.
  • Không một tông nào bỏ hoán, dầu nói chỉ hạnh nhưng không hoán sao thấu toàn về pháp Chỉ. Đó, Duy thức là tột đỉnh của công phu tâm ấn thiền vậy.
  • Môn đệ, biến hoán pháp là tột độ của Như Lai căn bản thiền, thì đây, phẩm hoán này, các ngươi hãy dùng trong việc dò dẫm tên ma quân thứ sáu, đang lẫn lộn trong các thể tâm thiện, khi thâu hồi tâm thiện này bằng ngũ căn còn lại.
  • Nghe ta, ý thức ngoài sự tiếp lịnh của A Lại Da Thức và Mạ Na thức nó thường mãnh liệt mỗi lúc nhãn, nhỉ, tỷ, thiệt, thân, đưa những tâm thiện trở về sự biết chánh ở mỗi căn.
  • Môn đệ, cảnh vật bắt, nghe, thấy, nếm, chạm ngưởi là tâm thiện, vì nó vô tri giác. Khi nhãn, nhỉ, tỷ, thiêt, thân tiếp thụ những cảm nhăng từ ấy về thì chính các căn này khởi động sang ý thức, biến các sự vật trở thành mê dỗ, nên gọi là tâm ác. Vì hai sự lý ấy, tâm thiện không là Như Lai, Tâm ác chẳng xem là Phật. Thế nên xét kỹ giữa hai tâm nầy, ta thấy một thể trí viên dung chánh giác, đó là tâm phật 3 đời.
  • Phật không thiện không ác, vì sự vô tri giác không là Phật, và kích động ham muốn sao gọi tiếng Như Lai? Thế nên, Phật là chơn như, tức bất xê chơn,  trước cảnh, tâm không dục muốn ham, đó chính là chơn thừa bất nhị.
  • Môn đệ đã biết cảnh là tâm vì không có sự cảnh làm sao có lý tâm phát khởi. Cảnh vọng tâm có 2 loại; cảnh thực hữu và cảnh tư lương(Sự thấy của A Lại Da Thức). Thế nên thiết nghĩa của Thiện Tâm và ác tâm có sự liên hệ mật yếu; vì cảnh này tỉ sắc đẹp nam nữ – nó có chi là quấy rối. Bởi đó là cấu dựng tiến hóa của vạn loại; cho nên, gọi đây là thể phát động lên một khuôn tâm(cảnh là tâm). Nhưng tâm này có đủ những thô tế bài báng thu hút vô minh, mà sực tác động của sau thức(6 căn) tùy sự cứng chắc hay ủy mị, thì sự lý ấy là do thức tiếp dẫn(ý thức) lãnh phần trách nhiệm. nên tâm ác cũng do thức này tạo ra và tâm Như Lai cũng trung dung tịch trụ từ nơi thức thứ sáu này.
  • Môn đệ, ý thức là tiềm năng phát sanh đối tượng. Nếu thụ tiếp tâm thiện, mà sục sôi móng dục thì đó là địa ngục. Bằng tiếp nhận tư cách duy thức( khi tu học) hoặc chơn như(vô tác sáu thứ) thì đó là tâm tịch tịnh của tam thế phật vậy.
  • Môn đệ, tỉ dụ người nam người nữ nào đó – chính thị tâm thiện – khi thức 6 thấy nghe chạm ngửi, thì từ ngủ căn này chuyển về phẩm ý thức(thức thứ 6).
  • Nếu ý thức nghĩ bậy móng vọng, thì tâm cảnh (thiện) đã quay bản ngã trở về sai lệch gọi là tâm ác hay tâm địa ngục.
  • Bằng trước sự tiếp tâm cảnh(thiện) này mà ngũ căn không kích thích về ý thức(vô tác) cứ mặc thấy nghe chạm ngửi không bợn nhiễm muốn ham. Đó là Tâm Như Lai.
  • Môn đệ tâm thiện chưa phải là Phật, vì nó thuộc của người, có thể nó là phẩm trợ đạo mà thôi. Còn tâm ác(ý-thức vọng) làm sao gọi là phật được; Thế nên giữa hai tâm này là tâm chơn như của chưa phật. Hãy cốt gãy sự dục móng của ý thức bằng duy trì hoán xét, để năm thức đầu không cấu nổi với thức thứ sáu mà tạo tác sái càng.
  • Môn đệ, thức ý rất hiểm nguy vì Phật, Thánh, Quỉ, ma thường do nó đứng địa vị quang trọng tạo tác. Từ A Lại Da Thức hay  Mạt na thức chuyển động , thì thức ý này cũng phụ trợ nhiều về phương diện tiện, nhứt là càng chuyển tâm thiện thực hữu bằng tiếp thẳng với năm thức bên ngoài, để thúc dục đầy đủ hơn về tác phạm. Hãy cố chận bắt ý thức đừng để nó chủ động trong việc điều hành năm thức đầu.
  • Nên nhớ tất cả sự hiện diện trước mắt, chánh kiến các ngươi còn chưa rõ, thì đừng tin tưởng vào các mộng mị, mơ tưởng, móng ham về sau hay vượt về quá khứ, đó mới gọi là Chơn Như Lai Phật được.
  • Môn đệ, ý thức là thể tiếp dẫn những sự, lý gì do năm thức đầu phản ứng. nó mau mắn biến chế sự thô trở về tế theo khả năng tột đỉnh của nó. THế nên khóe léo tạo cho tư tưởng(ý thức) được trong sạch, hãy dùng tư tưởng trước thiện Đạo, như vậy, ý thức dễ trở về mức độ vô tác. Phật quả dễ đạt được.
  • Phật thánh, quỷ ma đều do sự tác động của ý thức. Thế nên giáo huấn cho nó bằng sự hiểu biết, chớ đừng ép uổng, buông lơi. Tất cả sở trưởng của Duy Thức Môn là hoán cải mà thôi.
  • Môn đệ, khi năm thức đầu chạm kiến sự lý cảnh, thì hệ-thống thâu vật, âm, hương, vị của năm căn nầy gọi là tâm; rồi từ năm nơi nầy, ý thức tủa ra thành từng nhánh để bắt liên lạc, rốt cùng, sự việc chuyển về A Lại Da Thức hay Mạt Na Thức; lúc đó sự chấp ngã, tham dục từ trung tâm các thức dựng lên rất mạnh, nhất là ý thức, được lịnh thi hành theo dục thúc, thì ngũ căn(thức) sẽ dễ dàng ngã đổ theo thể cảnh bên ngoài. Đây là Tâm sa quấy, tác phạm hay địa ngục.
  • Thức thứ sáu là cơ quan phản gián, nó tiếp nhận cám dỗ từ năm tên mật vụ vùng; tức tốc nó thi hành gấp rút – nó rất hay, là tạo ra những tốt đẹp, mơi mộng, vi diệu để chèn mất định-tâm-theo-dõi. – Đừng để thức nầy đủ tác-động điều khiển thể trí thực tại, và giác minh; hãy cố dụng Duy thức(tịch hoán) để chiến thắng ý thức dễ dàng.
  • Môn đệ, khi ý thức tiếp nhận sự lý cảnh, các ngươi cố giữ thế nào, đừng cho tư-tưởng quá xa thực tế, đến ảo-huyền. Ý thức rất nguy hiểm nhưng rất dễ trị; khéo léo chuyển hướng là nó bị thuyết phục ngay.
  • Đừng để sự suy nghĩ viễn vong, đó là tự kiềm chế phần ý thức.
  • Môn đệ, khi các ngươi bị nhãn-thức tiếp nhận màu xanh của thực-hữu-cảnh, thì cơ-quan ý-thức suy nghiệm nào là màu hy-vọng, danh quyền sáng chói, công sự dễ thành, rồi đủ thứ toàn là sự cao sang tôn quí. Khổ lắm, sự có một, ý-thức bàn lý thành mười, đến nổi xa thực tại và kể như ảo-mộng trống không.
  • Thức thứ sáu thường bị kích động bởi âm thinh, sắc tướng. Nên nhớ, sự kích động nầy, nó có nhiều cái hay như khai trí. Nhưng sự móng động quá dỡ là điểm thật nhiều.
  • Môn đệ, sự phát-triển tư-tưởng là điểm thiết yếu; nhưng, phát khai nó lớn rộng bằng chánh-tư-duy và đúng theo thực-tại, như thế, thức ý nầy dễ-dàng trở về cương vị vô-tác.
  • Hãy phát-triển ý-thức, vì nó tỷ như mấu chánh trong tâm linh, nhưng khéo kỹ nó mới không trở thành vô dụng và có hại.
  • Môn đệ, hãy phát khai tư-tưởng bằng chánh-kiến. Trong chánh-kiến của Duy Thức môn có hai điểm: Chánh kiến từ việc chánh và chánh-kiến từ việc tà. Mặc dầu thế, khi Duy thức(Hoán) tác động, dầu tà sẽ biến về chánh, chánh sẽ được lọc thêm; và như vậy, tư-tưởng trong việc chánh hay tà, cũng phải chịu dưới hệ thống cải sửa của Duy Thức Pháp. Tất cả sẽ trở về với thế định quân-bình, an lạc.
  • Cải sửa tư-tưởng bằng duy thức, ấy chính là bước đầu của trí-tuệ. Nếu sơ khai đã vẹn chánh, thì rốt ráo là thần thông.
  • Môn đệ, thức thứ sáu rất quan trọng. Các ngươi tỷ như chiếc thuyền đang tiến trên bể cả; sóng gió ì-ầm sắp đánh đổ mất dạng mảnh tàu mỏng dẽ ấy. Nầy, các môn đệ, dù là phàm-phu, Thinh-Văn, Duyên-Giác hay Bồ Tát, các ngươi cũng nhớ: Hiện mình đang là chiếc thuyền ấy; Nếu không khéo léo chống chèo thì những giông to, sóng lớn ấy sẽ giết mất con đường về Niết Bàn của các ngươi vậy.
  • Tư tưởng mạnh gắp ngàn lần gió bão sóng to ấy; hãy biết nương tay chèo lướt qua từng đợt. Được thế, cai chẳng chọn các ngươi cầm lái thuyền-từ trên đường giác-tha hà, hải.
  • Môn đệ, muốn được chứng đạo để mức trợ pháp giác-tha thêm vững, hãy cố tự chủ tư-tưởng, tức là điều hành cơ quan truyền, bắt tin và là đao-phủ-thủ quả vị vô-tác của các ngươi. Thắng được nó, mong gì đoàn thiên ma chiếm được khu thành Duy Thức.
  • Thành trì kiên cố sẽ bị đạp đổ; nếu để lũ nội công thu tiếp, phát truyền tin-tức nội ngoại dễ dàng. Chận lại, hãy chận đứng tầm ngoại giao của ý-thức bằng “Thuần pháp cành hông”.
  • Môn đệ, “Thuần pháp cành hông” là nhập cảnh bạo của hàng Bồ-Tát, nếu các ngươi đủ sức thấy mình hành trọn: Hãy cố gắng thử xem.
  • Đừng so sánh với người. Hãy xem xét mình cho kỹ trước mọi việc; như thế, mức thành công dễ hoàn mãn hơn.
  • Môn đệ, pháp điều-ngự-tư-tưởng của mỗi cấp khác nhau. Thinh Văn thường tự kiềm chế, khắc phục mình bằng khổ hạnh, và ám thị. Duyên giác lại có sự quân bình bằng”ngôn phi phạm-hạnh” nghĩa là nhờ những lời lẽ, hành-động sái quấy trước làm căn bản tự-giác. Còn Bồ-Tát lại ngộ nghĩnh hơn là an tâm bằng phạm-hạnh xét pháp.
  • Biển đạo mênh-mông nên, phải biết cơ-duyên mình đang ở hành nào, đừng để so sánh, hoặc quá xu hướng quá cao hay quá thấp.
  • Môn đệ, pháp-giới quá nhiều, sự tiếp nhận sắc, thinh, hương, vị, xúc đến cơ-quan thức thứ sáu cũng tùy theo bực mà sanh pháp hoặc hoại pháp. Mỗi pháp giới phát khởi ở mỗi duyên, mỗi căn đều lập-định riêng biệt, và thô tế đầy đủ không thiếu sót một căn-bản Duy Thức tột đỉnh nào của bất nhị.
  • Pháp thì hà tầng. Đạo thì bình đẳng. Nhưng, lớn nào nương vào lớp nấy; mặc dù bực thầy nào cũng đủ sức hoàn thành cho mình trong căn-bản khả-năng. Nến thấu lý, pháp nầy pháp kia chỉ là danh-từ phân cấp; chớ chén cơm vẫn là chén cơm; nhưng thế ăn của nhiều người nhiều hạng khó đồng nhau được. Từ thô về tế, thấp đến cao. Nên hiểu rõ.
  • Môn đệ, nguy hiểm vô cùng nếu thức ý còn trần tâm. Nhưng, đẹp-đẻ thay nếu sự cải sửa của thức ý trở thành Đại-Viên-Cảnh-trí. Muốn được chứng vô-tác, phải dụng Duy Thức (hoán tịch) để hoàn thành quả vị nầy.
  • Chánh tư duy đến tin tấn trong chánh niệm, đó là đường đi đến hoán tịch vậy.
  • Môn đệ, hãy xét tầm hoạt-động của ý-thức khi nhập cảnh tịnh, hay thiền-đạo. Đây nầy, lúc ngồi, nằm để thâu tâm, ý-thức bị hốt-hoảng như đứng trước phản-giác trừu-tượng-kính; nó hiện rõ tất cả những tội lỗi, tất cả những quấy rối để đánh đổ bước thiền-tịnh của hành giả. Thế nên, chủ định nghị-lực đến tịch-trụ mới đủ sức chóng trả bước tấn công hộp tim, nghẹn ngực của ý-thức.
  • Nầy, quấy phá thiền sự của các ngươi chính là thức thứ sáu nầy; hãy cố gắng cứng rắn vào thể không sau khi hoán.
  • Môn đệ khi vào cảnh thiền tướng ý thức sẽ đột khởi từng cơn. Nếu các ngươi dùng chuỗi lực, dùng niệm lực, dùng chỉ lực để thắng; Được nhưng hậu quả thường lỏng tay và sa ngã; vì sự diệt thiếu xét sẽ trở thành vũ bạo, và có giờ sanh trở lại, bởi một pháp nó có vạn muôn cảnh biểu-dương; thế nên, thắng ý thức bằng pháp diệt trước sự-lý-cảnh nầy; ngày khác, sự-lý-cảnh mới hơn nhưng đồng chủ tưởng như thế, sẽ phá rối ta nữa đến lơi ngã. Vì vậy, bổn năng diệt sanh, sanh diệt cần rõ hiểu. Hành chuỗi lực, niệm lực, chỉ lực, chuyển-vận-pháp để diệt ý thức, thì sự sanh sẽ lớn-lao hơn nữa. Bây giờ, dùng pháp nầy sẽ có sự diệt mà không quày đáo đường sanh. Đó là Duy-Thức-Tam-Chế Cấp-Tiến (Tiệm, Đốn, Viên).
  • Đừng diệt, vì sự diệt có sanh, đó là bước nguy của đạo quả. Hãy diệt mà không sanh, đó là hạnh của Như Lai Chơn Diệu.
  • Môn đệ, áp dụng pháp xét, nghiệm, lọc, rửa tư-tưởng trước vọng đáo ở tâm phản-giác; sau khi thấy mình đã triệt rõ giả chơn; thực, hoại rồi, lúc bấy giờ, khai trừ thẳng những điểm chơn mà mình xét định; được thế mới gọi là Phật.
  • Loạn cảnh chơn giả khó minh; lọc minh chơn-giả; bỏ giả theo chơn; nghiệm chơn trọn vẹn, bỏ chơn để trở về không. Như thế mới gọi là chơn-không của nhất thừa vậy.
  • Nên nhớ, biết vọng bằng nổ lực ép trong niệm, chuỗi và chỉ, chuyển rồi tạo sự không. Đó gọi là loạn không, tâm loạn trí không, dễ thành chấp đạo(thường các nhà tiên đạo ưa bị đọa bởi cảnh nầy).
  • Bằng diệt vọng sau khi quá sợ sự-ly-cảnh tội-lỗi, hay cám dỗ, để trở về không; như thế, sa vào tà không; khó thoát ngoài địa ngục, ngạ-quỉ, và ma đạo.

 

  • Môn đệ, trong thể tĩnh, ý thức hoạt-động mất lập-trường hay đúng hơn là thiếu mạch lạc. Bởi sợ sự tiêu-diệt nên nó tạo-tác như cuồng ngông để chờ cái chết, mất. Trước cảnh đó, nếu không khéo, tâm vương sẽ bị lật đổ vì đám loạn tặc đang lộ diện và đánh chạy chết này. Bằng thắng được là tóm trọn ổ, và cảm-hóa chúng trở thành đắc-lực hơn.
  • Nếu chủ định trong hoán pháp bằng tất cả thể bình, thì thức ý cũng như các thức kia sẽ trở thành mức độ trí-tuệ siêu-việt, tột cao.
  • Môn đệ, trong thể tĩnh của thiền-pháp, các thức rất sợ và luôn kiếm cách để hoại phá, do đó, mỗi kích động của ngũ căn sẽ biến trở thành ngũ thức, bằng sự thúc dục của thức thứ sáu nguy-hiểm. Tỉ dụ, khi ngồi vào thiền tướng, dụng tấc định số-tức để gìn tâm chơn-không; lúc ấy, những cấu trược trong bản thân bị sức nóng vận chuyển, và từ từ xuất ra ngoài theo những đường chân lông khắp người. Khi ấy, thân-thức đã thành hình khi thân-căn chạm cảnh, và hệ-thuộc vào ý-thức; trong người lúc nầy như con nầy con kia bò rào-rạo, hay nghiến đau khó chịu, hoặc tưởng thấy bằng tư lương A-Lại-Da những dị cảnh, tất cả những thứ ấy cũng như là ấn chứng, nếu ý-thức không đánh ngã nổi nghị-lực và tâm vô-ngã thì thành-công, trái lại, đổ vỡ là chắc điểm không sai.
  • Môn đệ, nên xét học rõ ràng những thay đổi trong thể tĩnh, để ý-thức không đủ lý sàm sở bẻ gãy căn bản đầu tiên về thiền pháp.
  • Môn đệ, ngoài thể tướng của thân-căn; hành giả cần phải giữ-gìn nhiều hơn về sức dục của Mạt-na-Thức khi A-Lại-Da-Thức đưa những tà dục, móng vọng cho ý-thức đùa phá các ngươi lúc tịnh.
  • Không mộ người vật nào an tâm các ngươi bằng tự mình. Hãy cố thành công trong việc nắn gọt bản tâm, như nhà điêu-khắc công phu với chiếc tượng danh-dự trong kỳ triển-lãm.
  • Môn đệ, người ta leo núi cao, lặn biển sâu, chiếm kỳ danh; đó là những công trình được xem là vĩ đại. Nhưng, những thứ đó còn thua xa khi các ngươi kềm được ý-thức mình theo chánh niệm.
  • Đã gọi là ý thức, hãy cho sự tưởng biết đó lồng vào trong chánh đạo. Như thế là chiến thắng buông-lung trong tư-lương. Được vậy, ta dám chịu đọa, nếu các ngươi không đạt vô-tác đại-viên-cảnh-trí.
  • Môn đệ, phẩm ý-thức đã đơn lẻ lược giải, bây giờ, các ngươi hãy chú xét những điểm sau đây để rõ tầm hoạt-động, và hệ-thống sa-đọa của nó. Hãy xét kỹ.
  • Ta đã nói, xét, nghiệm là yếu môn của Duy Thức. Thế nên, trí năng hoán dõi nầy phải ở vào cương vị tuyệt diệu; như nhà chơi hoa, biết rõ sự quí giá xấu tốt trong các loại hoa bày chưng trước mắt hay nghe diễn dụ.
  • Môn đệ, ý thức thường ở trong hang sâu, ngõ hẹp, lối chật, đường gai; khó thấy, bắt, gần-gủi nó lắm; nó chỉ xuất hiện, và nên nhớ, sự ra mặt của nó bất-thần và kỳ diệu, khi ngũ căn đầu bị cảnh sắc biến thành ngũ thức.
  • Thức nầy tẩn lút như con chim cúc, khéo lắm mới thấy được nó, gian nan lắm mới bắt được nó, và khổ công lắm mới đào tạo nó thành vật lợi-ích cho mình. Hãy nghiệm cách chận bắt con cúc này để trở thành tay thợ trứ danh. Như thế, khéo cảm hóa thức ý để trở thành Phật, Thánh.
  • Môn đệ, gian ngoa, giảo quyệt, lanh lợi, thông minh, quảng bác, độc sâu hay ngay thẳng, chơn chánh, trí tuệ, bác ái, từ bi hỷ xả: Ý thức đều có Đủ Khả Năng. Thế nên, huấn luyện nó để trở thành tốt. Còn để nó xấu, khó ai chiến thắng tà ác lại nó.
  • Phật Thánh, ma quỷ cũng từ nơi nầy sanh ra. Bởi vậy, lanh-lợi, thông-minh là đức tính tốt nếu hành việc tốt. Bằng trái lại, nó nguy hiểm tột bực.
  • Môn đệ, nghe đây, nhìn ký những hình ảnh nầy để rõ sự biến-cải ngũ căn đầu thành ngũ thức để làm tay sai cho lũ tám, bảy và sáu si ác nầy.
  • Sự yên tĩnh đã bị xáo trộn; như mặt biển êm đến nổi mãnh chén bể đang trôi không chìm; mà vô tình cơn giông bảo nổi lên đến tàu biển to lớn, vững chắc cũng chôn sâu vào lòng nước. Đó là căn biến thành thức và lệ thuộc vào cơ quan thứ sáu nầy.
  • Môn đệ, ngũ căn sẽ được giải như vầy theo Duy Thức Môn, trước giờ bị xích đầu theo ngoại-tặc: Ngũ căn là nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn. Đây là năm căn gốc tạo ra sự ác, nó có thẻ coi là môi-giới cho ngũ trần và ý-thức; để bám rẻ danh căn thành thức một cách dễ dàng. Môn đệ, chắc các ngươi sẽ hỏi tại sao sự biến chuyển kỳ diệu ấy? Ta đáp rằng: nếu chỉ có năm căn an trụ thì nó vẫn là năm căn, vì bản gốc nó còn thiện; nhưng khổ nổi cảnh vật bên ngoài đã tác dụng nó đến mức rung chuyển, và làm giựt mình ý-thức (thức sáu); đó, chính lúc ấy, các căn nầy trở thành phản-gián cho tình thế, và nguy khốn sẽ mãnh liệt hơn. Căn thành thức là do diễn biến như vậy.
  • Ngũ căn đầu vì ô nhiễm ngũ trần, nên tác động nó nhằm vào sự thúc đẩy sái quấy về ý-thức. Chính lúc ý-thức chuyển mình hành sự, nó đã mang lốt khác để hoạt động ghê gớm hơn. Đó là căn trở thành địa-vị thức.
  • Môn đệ, sự việc căn biến thành thức nầy rất đáng ghét, bởi nó tác-tạo những tai họa cho hành-giả mà thôi. Nuôi ong tay áo, nuôi khỉ dòm nhà là nó. Vui, yên thì nó ngoan, hiền; bằng trái lại, nó sẽ đốt tiêu và gây đau đớn cho ta đến sa-đọa tâm-tư. Muốn diệt nó, ít ra, các ngươi phải vận dụng cả khả-năng tự-chủ để lãnh những cám dục kiến-hoặc. Đây là phương vi-diệu nhất để kiềm văn vào thế căn, hầu chận đứng bổn-năng môi-giới của nó.
  • Ngoài đức tự chủ để cảm hóa ý-thức, bằng chận đứng năm anh môi-giới; các ngươi hãy tạo cho mình đức tánh lẳng lặng và bất cần, với hiểu biết vô-thường giả tạm.
  • Môn đệ, nếu các căn không bị nhiễm lục trần thì ý-thức không sanh tán loạn, và hệ thống bảy, tám không còn quấy ác nữa; như thế, đường về Lạc Cảnh có gì là xa-xôi, diệu vợi.

 

 

  • Chìa khóa mở cửa cho thể trí Diệu-quan-sát là mức hành đẳng giác của thức nầy bằng sự ngủ yên không tiếp lịnh hay thâu lịnh của A-Lại-Da-Thức, Mạt-na và ngũ-thức đầu.
  • Môn đệ, thức nầy nó không thiên vị một thể chấp, hay thể không nào. Nhưng sự đột-kích bất cập của Mạt-na khi nó giao hệ với ngũ thức, đã biến nó trở thành chấp ta và chấp pháp. Nhưng khéo đào luyện nó bằng những pháp môn đoạn-tuyệt tà ý; lúc đó, địa-vị rốt-ráo sẽ biến nó thành trí Diệu-quan-sát. Hãy cố gắng, các ngươi sẽ có những thiện-hảo đời đời.
  • Quá trình Phật-đạo sẽ diễn tiến từ cấp và thay đổi từ bực; thế nên, mức tiệm tiến cũng như phát-triển của các thức cũng vi hành từng mức một mà cái tuyệt đỉnh nhứt của đạo-quả là khéo luyện thức thứ sáu nầy.
  • Môn đệ, chuyển hướng của ý thức không lường; nó như tên vô-nghị-lực hay đúng hơn là tên vô tri trong đức tự chủ; bởi lẽ những hình ảnh bên ngoài như ngũ trần, hay kích-động bên trong như tư-lương-cảnh, tất cả những điểm ấy đều đủ xoay chiều nó về thiện hay ác, mà công năng phản kháng của nó không tránh khỏi những hấp-lực ngoại-trần. Thế nên, cần rõ những tác-dụng của các vi-tê-trần đối với nó, để ép nó về thể không của chơn-diệu.
  • Tâm Vương sẽ trụ nếu tâm-sở bị định yên. Đó là tất cả yếu quyết cần lường, suy, định, tính.

QUYỂN 3

QUYỂN 2